Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Đất đai của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai, gọi:  1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

 

2. Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai quy định về điều kiện để người sử dụng đất chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:

 

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

Chính vì vậy, phần đất tái định cư nêu trên chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng. Trên thực tế người được hưởng suất tái định cư vẫn chuyển nhượng bằng hình thức làm hợp đồng ủy quyền toàn quyền sử dụng, làm sổ, cấp số nhà, xây dựng, chuyển nhượng. Tuy nhiên, khi nhà nước thực hiện việc cấp GCN QSDĐ cho lô đất đó thì người được ủy quyền không được quyền đứng tên trên GCN QSDĐ. Do vậy về pháp luật thì người được hưởng suất tái định cư đó sẽ là người đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ và được nhà nước công nhận là người sử dụng hợp pháp. Nếu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiềm ẩn nhiều rủi ro sau này có thể xảy ra tranh chấp.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.1940 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê