Chúng tôi đến nơi ở mới từ năm 2007 đến nay vẫn chưa được đất rừng sản xuất, hiện nay đựơc thông tin mỗi hộ chỉ nhận được 0,5ha/hộ gia đình. Mà trước đó chúng tôi có 2ha/hộ. Theo ban chỉ đạo di dân tái định cư chúng tôi sẽ không đựơc bồi thường gì thêm. Anh/chị có thể cho mình biết như vậy đúng hay sai? Và chúng tôi phải làm thế nào?
Cảm ơn anh/chị nhiều. 
Người gửi: Thanh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê.

giá đất

Luật sư tư vấn Luật đất đai trực tuyến gọi: 1900 6162

Trả lời:

1.Cơ sở pháp lý

-Luật Khiếu nại của Quốc hội, số 02/2011/QH13;

-Luật Đất đai của Quốc hội, số 45/2013/QH13.

2.Nội dung trả lời

2.1.Thứ nhất là về vấn đề theo ban chỉ đạo di dân tái định cư chúng tôi sẽ không đựơc bồi thường gì thêm là đúng hay sai?

Căn cứ Điều 83 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 83. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

1. Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

2. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;

c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

d) Hỗ trợ khác.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Như vậy khi diện tích đất bị thu hồi ngoài việc được hỗ trợ tái định cư thì  theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 83 Luật đất đai năm 2013 thì còn được bồi thường theo quy định. Cụ thể:

Căn cứ Điều 11 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 11. Căn cứ để xác định loại đất

Việc xác định loại đất theo một trong các căn cứ sau đây:

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

2. Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

3. Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

4. Đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì việc xác định loại đất thực hiện theo quy định của Chính phủ”

Căn cứ khoản 2 Điều 74 Luật đất đai năm 2013:

“2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.”

Như vậy để xác định cụ thể việc bồi thường như vậy có đúng không thì còn căn cứ vào loại đất khi nhà nước thu hồi và mục đích thu hồi là gì. Do đó với trường hợp này của gia đình bạn thì cần phải căn cứ vào Điều 11 Luật đất đai năm 2013 để xác định loại đất.

2.2.Thứ hai về vấn đề gia đình bạn phải làm gì trong trường hợp này?

Căn cứ Điều 204 Luật đất đai năm 2013:

“Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.”

Như vậy với trường hợp này thì bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi tới người đã ra quyết định về bồi thường hoặc cơ quan người ra quyết định bồi .Cụ thể:

Căn cư khoản 1 Điều 7 Luật khiếu nại năm 2011:

“Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.”

Căn cứ khoản 2 Điều 8 Luật khiếu nại năm 2011:

“Điều 8. Hình thức khiếu nại

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại; tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.”

Căn cứ Điều 9 Luật khiếu nại năm 2011:

“Điều 9. Thời hiệu khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.”

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI