Chào Luật Minh Khuê! Năm 1999, hộ bà A có đơn xin mượn đất làm quán bán hàng với diện tích 20m2 (phần đất kia trên bản đồ là đất công do UBND thị trấn quản lý ghi là đất chuyên dùng), và được UBND xã nơi có đất và phòng Địa chính (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường) có biên bản cho giao mượn đất làm quán bán hàng. Trong biên bản có ghi: Hộ gia đình được sử dụng đất đến khi nào nhà nước cần thu hồi thì gia đình phải trả lại khu đất này và không được đền bù, hộ gia đình không được xây dựng cơ bản và làm rộng hơn, gia đình không được chuyển nhượng hay chuyển đổi thửa đất này cho người khác). Đến năm 2011 gia đình làm đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND cấp xã có xác nhận rằng hộ bà A có quá trình sử dụng đất ổn định từ năm 1999, phù hợp với quy hoạch là khu dân cư và không có tranh chấp. Sau đó hộ bà A được hướng dẫn làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầy đủ, có phiếu ý kiến khu dân cư, biên bản xác minh cụ thể, nộp tiền sử dụng đất ở vào ngân sách nhà nước theo quy định và được UBND huyện cấp GCNQSDĐ là đất ở.

Xin hỏi: Trường hợp trên thì hộ gia đình bà A có đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ không? Vì theo Khoản 6, Điều 50 Luật Đất đai 2003 như vậy là hộ gia đình đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận, nhưng ở đây có mâu thuẫn trái chiều cho rằng đất đó là quỹ đất công, gia đình được cho mượn đất làm quán bán hàng. Ý nói là nguồn gốc không phải do hộ gia đình tự khai phá sử dụng. Nếu đặt giả thiết không có cái biên bản giao mượn đất kia thì đã cho rằng hộ gia đình tự khai phá từ năm 1999 thì tại thời điểm kê khai đăng ký năm 1999 hộ gia đình sử dụng đất ổn định, phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp thì được cấp GCNQSDĐ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Đất đai 2003

Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai

2. Nội dung tư vấn:

Năm 1999, hộ bà A có đơn xin mượn đất làm quán bán hàng với diện tích 20m2 (phần đất kia trên bản đồ là đất công do UBND thị trấn quản lý ghi là đất chuyên dùng). Theo đó đất chuyên dùng được giải thích tại Điểm b Khoản 5 Điều 6 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP:

"Điều 6. Phân loại đất

5. Nhóm đất phi nông nghiệp được chia thành các phân nhóm sau:

b) Đất chuyên dùng bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng.

Đất sử dụng vào mục đích công cộng là đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, cảng đường thuỷ, bến phà, bến xe ô tô, bãi đỗ xe, ga đường sắt, cảng hàng không; hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn xăng, dầu, khí; đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, khu an dưỡng, khu nuôi dưỡng người già và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cơ sở tập luyện thể dục - thể thao, công trình văn hoá, điểm bưu điện - văn hoá xã, tượng đài, bia tưởng niệm, nhà tang lễ, câu lạc bộ, nhà hát, bảo tàng, triển lãm, rạp chiếu phim, rạp xiếc, cơ sở phục hồi chức năng cho người khuyết tật, cơ sở dạy nghề, cơ sở cai nghiện ma tuý, trại giáo dưỡng, trại phục hồi nhân phẩm; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định bảo vệ; đất để chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải;"

Điều 49 Luật đất đai 2003 quy định các trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:

"Điều 49. Những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp sau đây:

1. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn;

2. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

3. Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

4. Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất;

5. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;

6. Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;

7. Người sử dụng đất quy định tại các điều 90, 91 và 92 của Luật này;

8. Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;

9. Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở."

Đến năm 2011 gia đình làm đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND cấp xã có xác nhận rằng hộ bà A có quá trình sử dụng đất ổn định từ năm 1999, phù hợp với quy hoạch là khu dân cư và không có tranh chấp. Sau đó hộ bà A được hướng dẫn làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầy đủ, có phiếu ý kiến khu dân cư, biên bản xác minh cụ thể, nộp tiền sử dụng đất ở vào ngân sách nhà nước theo quy định và được UBND huyện cấp GCNQSDĐ là đất ở. Việc làm của UBND cấp xã là trái quy định của pháp luật.

Theo các quy định nêu trên thì UBND cấp xã không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất bà A đang được UBND xã cho mượn. Diện tích đất mà anh Bình được UBND xã cho mượn là thuộc quỹ đất công ích của xã. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 49 Luật Đất đai năm 2003 thì có thể khẳng định ngay là loại đất này không thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì:

- Đây là đất thuộc quỹ đất công ích của xã, do đó, mục đích chủ yếu của quỹ đất này là nhằm phục vụ cho việc xây dựng các công trình công cộng hoặc sử dụng để bồi thường khi lấy đất khác xây dựng công trình công cộng cho địa phương. Xã có thể cho các tổ chức, cá nhân thuê đất công ích để sản xuất, kinh doanh, tạo nguồn thu cho ngân sách xã, nhưng việc cho thuê này chỉ mang tính chất tạm thời, do đó, không thể xác lập quyền sử dụng đất với người được cho thuê đất công ích;

- Đối với quỹ đất công ích, UBND xã được giao quản lý đất này không có thẩm quyền giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ có quyền cho thuê đất thuộc quỹ đất này, nên đối với người thuê đất thuộc quỹ đất công ích do UBND xã quản lý thì không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Như vậy kể cả trong trường hợp nếu đặt giả thiết không có cái biên bản giao mượn đất kia thì đã cho rằng hộ gia đình tự khai phá từ năm 1999 thì tại thời điểm kê khai đăng ký năm 1999 hộ gia đình sử dụng đất ổn định, phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp thì bà A cũng sẽ không được cấp GCNQSDĐ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật đất đai.