Tuy nhiên khi tôi đào móng kè thì ông trưởng thôn đến và thông báo gọi địa chính đo lại ranh giới giữa ao và đường làng. Khi địa chính đến họ lấy thước đo từ hàng rào nhà đối diện bên kia đường sang ao nhà tôi, họ nói đường rộng 4,5m nên nhà tôi phải thụt vào so với lề đường bên nhà tôi là 1m8. Trong khi đó hàng rào nhà đối diện chỉ cách lề đường bê tông là 0,5m nên khi đó diện tích ao nhà tôi bị thiếu. Vậy xin luật sư tư vấn cho tôi một số vấn đề sau:  1.Cán bộ địa chính lấy mốc đo như vậy đã chính xác chưa ?  2.Với đất cạnh đường dân sinh mà thôn đã đổ bê tông thì cách xác định tim đường phải tính như thế nào ? 3. Nếu tôi không đồng ý cách giải quyết như vậy thì phải làm gì?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật đất đai  của công ty Luật Minh Khuê.

 

>>Luật sư tư vấn đất đai gọi  1900.6162 của công ty Luật Minh Khuê.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến công ty Luật Minh Khuê. Với những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Cơ sở pháp lý: 

Luật đất đai 2013. 

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011. 

Nội dung phân tích:

Điều 63 Luật đất đai 2013 quy định về các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng:

Điều 63. Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây:

1. Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này;

2. Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

3. Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án. 

Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định thẩm quyền giải quyền tranh chấp đất đai:

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Điều 25. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật này.

5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật.

9. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

10. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

11. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

12. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.”

Như vậy vấn đề cảu bạn được phân tích như sau:

1. Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, mảnh đất ao của nhà bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bạn. Tuy nhiên bạn không nói rõ việc cán bộ địa chính lấy mốc như vậy có làm theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hay không nên có hai trường hợp xảy ra như sau:

Trường hợp 1: Trước khi cắm mốc để xây dựng, mở rộng đường Ủy ban nhân dân huyện đã tiến hành thu hồi đất và bồi thường cho bạn thì việc cắm mốc , xây dựng của cơ quan địa chính như vậy là hợp lý.

Trường hợp 2: Trước khi cắm mốc xây dựng, mở rộng đường giao thông cơ quan nhà nước có thẩm quyền không tiến hành việc thu hồi và bồi thường cho bạn mà lại xây dựng đường giao thông lấn vào đất của bạn thì việc xác định mốc đó của cơ quan địa chính là sai.

2 Hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về cách xác định tim đường giao thông nên đối với đất cạnh đường dân sinh mà đã đổ bê tông thì việc xác định tim đường như thế nào sẽ do cơ quan địa chính thực hiện dựa trên sự thiết kế, đo đạc để xây dựng đường giao thông.

3 Trong trường hợp bạn không đồng ý thì bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi đến cơ quan địa chính hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện (Theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai và Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự).

 Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư luật đất đai.