Hiện nay mẹ em đã được cấp sổ đỏ. Nay ông ngoại em đứng tên khởi kiện đòi lại toàn bộ 2ha đất với lý do không có giấy tặng cho, vậy có được không? (Hiện bà ngoại đã mất, ông ngoại có tất cả 06 người con.) nhờ Luật sư tư vấn giúp sự việc trên, em xin chân thành cảm ơn!
Đương sự trên 86 tuổi có được đứng tên (ký tên) yêu cầu khởi kiện và ủy quyền cho luật sư để tham gia tố tụng tại tòa không?

Em xin chân thành cảm ơn.

Tên khách hàng: L.M.Sang

Câu hỏi được biên tập tư chuyên mục tư vấn luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Thưa quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật tố tụng Dân sự 2004 (Bộ Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm năm 2011)

Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung 2011

2. Nội dung phân tích:

1. Về quyền kiện đòi đất

Năm 1960 ông bà ngoại bạn mua 2ha đất ruộng. Năm 1992 giao cho mẹ bạn quản lý, canh tác sử dụng cho đến nay. Nay mẹ bạn đã được cấp sổ đỏ với mảnh đất này nhưng ông bạn lại muốn khởi kiện để đòi lại tài sản. Như vậy để xác định ông bạn có quyền này hay không, cần dựa vào quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện:

Theo quy định tại Điểm b Khoản 2 điều 23 của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự quy định:

Các trường hợp tranh chấp dân sự sau đây không áp dụng thời hiệu khởi kiện:

"Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là tranh chấp ai có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó;

Tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu là tranh chấp về tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình nhưng do người khác quản lý, chiếm hữu tài sản đó;

 Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai là tranh chấp ai có quyền sử dụng đất đó."

Theo quy định trên, trường hợp ông bạn kiện đòi lại tài sản đã giao cho mẹ bản quản lý là không áp dụng thời hiệu. Bởi vậy, hiện giờ ông bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Điều kiện đứng tên khởi kiện

Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là chủ thể theo quy định của pháp luật được tham giam vào quan hệ pháp luật Tố tụng Dân sự. Các chủ thể này bao gồm cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều do pháp luật quy định. Điều 161 BLTTDS đã quy định:“Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp phá kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”

Cá nhân khi khởi kiện vụ án dân sự phải có năng lực hành vi Tố tụng Dân sự đồng thời phải có quyền lợi bị xâm phạm.

Về năng lực hành vi tố tụng Dân sự, Điều 57 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi 2011 quy định như sau:

"1..

2. Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự.

3. Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác...."

Theo quy định trên, nếu ông bạn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì hoàn toàn có quyền đứng tên khởi kiện hoặc ủy quyền cho luật sư tham gia tố tụng tại tòa.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900 6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Ý kiến trả lời bổ sung:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý:

-Bộ luật dân sự 2005.

-Luật đất đai 2013

-Bộ luật tố tụng dân sự 2004

Nội dung tư vấn:

-Theo dữ liệu bạn cung cấp thì chúng tôi hiểu rằng mảnh đất này là của ông bà bạn mua nhưng cho mẹ bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Bây giờ, ông bạn muốn kiện để đòi mẹ bạn phải trả lại mảnh đất đó.

Theo quy định của điều 166,167 luật đất đai 2013 thì mẹ bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên mẹ bạn có quyền của người sử dụng đất. Ông bạn không thể đòi lại mảnh đất nêu trên nếu mẹ bạn không thực hiện tặng cho hay chuyển nhượng lại cho ông bạn theo quy định của pháp luật đất đai.

Tuy nhiên, nếu ông bạn chứng minh được ông bạn chỉ ủy quyền cho mẹ bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thôi thì theo quy định của điều 581, bộ luật dân sự 2005 thì: "Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định." Theo đó, bên ủy quyền có nghĩa vụ theo điều 584, bộ luật dân sự 2005 thì bên ủy quyền chỉ được thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền và thời hạn ủy quyền. Khi đó, ông bạn có thể đòi lại đất được.

Trong trường hợp việc nhờ mẹ bạn đứng tên mà chỉ thỏa thuận miệng với nhau, không có hợp đồng tặng cho gì thì việc đòi lại được tài sản sẽ không thể xảy ra.

-Về điều kiện khởi kiện.

Theo quy định tại điều 163 Bộ luật tố tụng Dân sự, theo đó khi cá nhân, cơ quan, tổ chức nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện để bảo vệ.

Đối với cá nhân khi khởi kiện phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. 

Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự. Tùy vào độ tuổi và thể chất thì pháp luật chia ra các trường hợp sau:

Người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực lực hành vi tố tụng dân sự là, trừ những người bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc trường hợp khác do pháp luật quy định.( điều 21,22,23, bộ luật dân sự 2005)

Người dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự, thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ tại Tòa án do người đại diện theo pháp luật thực hiện.

Người từ đủ 15 tuổi - chưa đủ 18 tuổi, nếu đã tham gia hợp đồng lao động hoặc thực hiện các giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì có thể tự mình tham gia tố tụng và có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Những quan hệ khác thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ của họ do người đại diện theo pháp luật thực hiện.

Như vậy, không phụ thuộc vào việc tuổi ông bạn đã cao mà cho rằng ông bạn không có đủ năng lực hành vi tố tụng được, nếu ông bạn không thuộc các trường hợp theo điều 21,22,23, bộ luật dân sự 2005 thì ông bạn vẫn có đủ điều kiện khởi kiện.

Trên đây là toàn bộ phần tư vấn của chúng tôi cho thắc mắc của bạn, hi vọng sẽ giúp ích được cho bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê!

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê