Năm 2000 gia đình tôi làm nhà và sống trên mảnh đất này cho đến nay; năm 2007 ubnd huyên kiểm tra ông đang đưa vào báo cáo diện tích làm chung của 2 nhà vào diện tích đất của ông đang, gia đình tôi hoàn toàn không hay biết, huyện cũng không làm việc với gđ tôi; sau kiểm tra ubnd huyện ra quyết định thu hồi toàn bộ diện tích sử dụng không hiệu quả, chỉ để lại 12 ha gia đình tôi làm nhà ở từ năm 2000 và trồng rừng có hiệu quả; 8/2007 ông đang có đơn gửi ubnd xã cưk roá. 11/2007 ông đang có đơn khiếu nai gửi ubnd huyện, trong đơn đều có trình bày quá trính làm chung của 2 gia đình và đề nghị xã, huyện quan tâm giải quyết cho hộ gia đình tôi 40 ha đât( tức1/2 diện tích đất làm chung của 2 gia dinh) vì gia đình tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức và chưa có đất ở, đất sản xuất, nhưng đề nghị này không đươc huyện giải quyết vì huyện chỉ giải quyết yêu cầu liên quan đến quyền lợi trực tiếp của ông đang, phần gia đình tôi vẫn sản xuất và sinh sống trên mảnh đất 12 ha, diện tích đất 12 ha xung quanh nhà tôi đã trồng rừng được khai thác và trồng lạ lên tốt, đến năm 2013 ông đang kiện tôi ra toà đòi đất, toà đã thụ lý nhưng gần xử thì ông đang lại rút đơn và toà ra quyết định đình chỉ vụ án, song đến 6/2015 ông đang lại kiện ra toà án đòi đất của gia đình tôi, gia đình tôi đã khai đầy đủ quá trình sử dụng đất của gia đình tôi và cung cấp các giấy tờ chứng minh việc 2 gia đình làm chung và giấy xác nhận của thôn trưởng từ năm 2000 cho đên nay để chứng minh gia đình tôi là người trực tiếp sản xuất liên tục trên mảnh đất này, giấy này có xác nhận của ubnd xã, toà gần sử thì ông đang lại rút đơn, 7/2015 toà ra quyết định đình chỉ vụ án vì ông đang xin rút đơn được toà chấp nhận. Việc ông đang kiện rồi rút đơn nhiều lần làm gia đình tôi quá ư mệt mỏi và không yên tâm sản xuất, năm 2009 huyện tổ chức đo để cấp bìa nhưng vì ông đang có đơn tranh chấp nên xã không làm cho gia đình tôi. Xin hỏi: - hiện nay ông đang rút đơn không còn kiện nữa thì gia đình có được làm thủ tục cấp bìa đỏ không? Vì xã cứ vin vào đất đang có tranh chấp nên không làm thủ tục cấp bìa cho gia đình tôi mặc dù tôi đã cung cấp quyết định đình chỉ vụ án của toà án cho xã rồi, nếu xã không làm thủ tục cấp bìa cho gia đình thì tôi phải làm sao? Xin trân trọng cảm ơn luật sư tư vấn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai công ty luật Minh Khuê.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Luật đất đai 2013

Nội dung tư vấn:

Căn cứ tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013 có quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

"1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất".

Như vậy, trước đó, việc ông Đ làm đơn kiện gia đình bạn nên diện tích đất bạn đang sử dụng bị coi là đất có tranh chấp. Tuy nhiên, nay ông Đ đã rút đơn kiện và tòa cũng đã chấp thuận yêu cầu rút đơn và đình chỉ vụ án, vậy, diện tích đất của bạn không còn bị coi là đất có tranh chấp nên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo những quy định của Luật đất đai 2013.

Như vậy, để đảm bảo đất của bạn không bị coi là đất có tranh chấp, bạn nên giải quyết dứt điểm vụ việc với ông Đ để đảm bảo ông Đ không tiếp tục kiện và diện tích đất của bạn được xác định rõ ràng.

Thêm vào đó, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quy định trong Luật đất đai 2013 như sau:

Điều 105. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

3. Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ

Như vậy, UBND cấp xã không có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp đất của bạn không còn tranh chấp mà vẫn không được tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn có thể tiến hành khiếu nại như sau:

Điều 209. Tiếp nhận và xử lý trách nhiệm của thủ trưởng, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và công chức địa chính cấp xã trong việc vi phạm trình tự thực hiện các thủ tục hành chính

1. Tổ chức, cá nhân khi phát hiện công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp, công chức địa chính xã, phường, thị trấn vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn đối với việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, làm thủ tục thực hiện quyền của người sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận thì có quyền gửi đơn kiến nghị đến người có thẩm quyền theo quy định sau đây:

a) Đối với vi phạm của công chức địa chính xã, phường, thị trấn thì gửi kiến nghị đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;

b) Đối với những vi phạm của công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai cấp nào thì gửi kiến nghị đến thủ trưởng cơ quan quản lý đất đai cấp đó;

c) Đối với vi phạm của thủ trưởng cơ quan quản lý đất đai thì gửi kiến nghị đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp.

2. Trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiến nghị, Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý đất đai quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo cho người có kiến nghị biết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật đất đai.