1. Giải quyết tranh chấp đất khi không có giấy tờ chứng minh?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Đất trong vườn nhà tôi đã sử dụng hơn 50 năm nay nhưng không có giấy tờ chứng minh nào cả cũng chưa thực hiện nghĩa vụ đóng thuế mà nằm trong sổ chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà bên cạnh năm 2010 mà không qua ký tứ cận của gia đình tôi. Bây giờ dựa vào sổ đỏ, người bên cạnh đòi trả đất cho họ, thì tôi phải làm sao? Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: M.T

Giải quyết tranh chấp đất khi không có giấy tờ chứng minh ?

Phương pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề tranh chấp mà vẫn giữ được tình cảm láng giềng giữa bạn và gia đình hàng xóm là hai bên nên tự thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được thì bạn có thể nhờ sự can thiệp của chính quyền.

Đầu tiên là thủ tục hòa giải tại địa phương nơi xảy ra tranh chấp. Tại Điều 202 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

"1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Thủ tục hòa giải tại địa phương là thủ tục bắt buộc đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, nếu việc hòa giải tranh chấp đất đai tại xã không thành, bạn có tiến hành các bước tiếp theo. Cụ thể như sau:

Theo Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định về Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai:

"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;"

Nếu bạn lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND có thẩm quyền thì cần gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến UBND cấp huyện nơi có mảnh đất đó, còn nếu chọn Tòa án thì gửi đơn ra tòa án cấp huyện nơi có bất động sản tranh chấp căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bạn nên chuẩn bị những tài liệu chứng minh được rằng mảnh đất đó đã được gia đình nhà bạn sử dụng trong một thời gian dài (50 năm) và không xảy ra tranh chấp cho đến thời điểm hiện tại. Ví dụ như lời khai của những hộ dân sống xung quanh.

>> Tham khảo ngay: Giải quyết tranh chấp đất liệu đã thỏa đáng?

2. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất với cháu ruột?

Thưa luật sư, gia đình tôi có thửa đất khai hoang sử dụng ổn định qua nhiều thế hệ, vùng đất xung quanh cũng có hiện trạng như vậy. Năm 1997, gia đình tôi tái định cư, vì ở xa để ổn định cuộc sống ban đầu nên có để lại cho cháu ruột của vợ trồng cây, vùng xung quanh cũng như vậy. Sau này, xã có tổ chức kê khai đo đạc, có sự tham gia chính quyền cùng với thôn, xóm để xác định chủ đất và tên chủ hộ gia đình tôi được ghi trên bản đồ, cháu ruột của vợ tôi cũng ra khai và bảo đất của mình khai hoang nên hai bên xảy ra tranh chấp. Ngay lúc đó, gia đình tôi đã dừng ngay việc tiếp tục canh tác của cháu tôi trên mảnh đất đấy và sau đó gia đình tôi canh tác nhưng bị phá hoại.

Quá trình tranh chấp thì địa chính mở tờ bản đồ mới lại có tên của cháu vợ tôi nhưng không trả lời được quá trình xác nhận ghi tên cháu vợ tôi vào bản đồ. Trong quá trình tranh chấp, tôi được sự xác nhận của những người có đất giáp ranh xung quanh, trình bày được thông tin và thực trạng của vùng đất, còn phía cháu vợ tôi không có người làm chứng xác nhận, không cung cấp được thông tin khai hoang, quá trình sử dụng. Hòa giải không thành nên tôi muốn làm hồ sơ để xin ủy ban huyện xem xét, ra quyết định.

Xin hỏi luật sư tôi phải chuẩn bị những gì và cơ sở pháp lý tôi cần có để được công nhận quyền sử dụng mảnh đất trong trường hợp trên. Xin cảm ơn luật sư đã đọc thư của tôi, rất mong nhận được sự hồi đáp của luật sư để tôi sớm có niềm tin để tiếp tục đòi công lý về cho mình.

- Trăng Khuyết -

3. Tranh chấp đất mồ mả thì giải quyết như thế nào?

Xin cho tôi hỏi: Tổ tiên nhà tôi có khu đất trước đây do ông bà khai hoang lập nghiệp nhưng do trước đây hàng trăm năm không làm giấy tờ hay sổ quyền sử dụng đất hợp pháp. Và cũng rất rất lâu rồi ông bà tổ tiên qua đời và được chôn cất tại khu đất này, và thời gian cứ thế trôi đi chúng tôi đã hình thành khu mộ đến nay đã quy tập và duy tu đã 2 lần.

Tuy chưa có giấy tờ nhưng chính quyền cũng không gây khó khăn, cản trở vì chúng tôi chỉ tập kết những mộ đã chết lâu năm rồi không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Chuyện xảy ra tranh chấp như sau: Cận khu mộ nhà tôi có một hộ dân cũng sống hàng chục năm nay nhưng tính ra cũng chưa lâu năm bằng khu mộ nhà tôi có. Vừa rồi nhà nước, chính quyền địa phương có tổ chức đo đạc lại đất đai cho dân nhưng khi đo đạc không biết thế nào lại đo nguyên khu mộ của nhà tôi vào đất của hộ dân này vì thế trước đây hai tháng chúng tôi tiến hành trùng tu khu mộ thì bị hộ dân này gây khó khăn không cho tập kết vật tư, chúng tôi rất bức xúc và có báo chính quyền địa phương xuống hiện trường giải quyết. Nhưng phía chính quyền trả lời đất này không thuộc khu mộ nhà nước, không cấp đất khu mộ ở đây và có ý cấp đất cho hộ dân kia nên chúng tôi không đồng ý nên xảy ra tranh chấp. Có một điểm nữa là không phải phần khu mộ quy tập đó mà phía trước khu mộ còn có mảnh đất trước đây đã chôn cất ông bà tổ tiên, quá trình bốc dỡ vẫn còn nguyên lỗ từng phần mộ đã cất bốc?

Trên đây là nội dung sự việc kính nhờ luật sư cho tôi lời giải đáp thỏa đáng tôi và gia đình xin chân thành cảm ơn.

- Sâm -

4. Tranh chấp đất đã bàn giao để lấy tiền đền bù?

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin nhờ luật sư tư vấn giúp! Vào năm 1996 tôi được giao ruộng khoán bên bãi cát tổng là 1.510m2 do ông D.V.T làm xóm trưởng ký giao, đến năm 2007 ông N.N.T làm xóm trưởng có ý kiến bên bãi cát trồng lúa không hiệu quả. Bên lưu hôi có ruộng của cô H.T.L trả lại là 3 sào và không làm nữa, lúc đó ông N.V.H nhà ở xóm 3 muốn mở trang trại bên bãi cát gần khu đó muốn chuyển đổi, tôi và bà B.T.L, nhà ở xóm 2 nhất trí chuyển và ông N.N.T dẫn tôi sang đồng lưu hôi bàn giao 3 sào của cô H. T. L.

Kể từ 2007 đến 2018 tôi có sử dụng trồng lúa và có đóng thuế đầy đủ cho nhà nước và không có tranh chấp gì, nay 2018 có dự án đền bù và cô H. T. L có về tranh chấp nhận lại ruộng và tôi có làm đơn gửi xuống Ủy ban nhân dân xã nhờ giải quyết, và xã có gọi nhà cô H.T.L xuống làm việc và cô H.T.L có bảo ruộng nhà cô ấy thì cô ấy được đền bù, và vẫn chưa giải quyết xong, nay tôi gửi bài viết này kính nhờ luật Minh Khuê có thể tư vấn tôi làm đơn khởi kiện sang TAND huyện được không? Nếu có khởi kiện thì gia đình tôi hy vọng được thắng kiện không ạ?

Rất mong được quý luật sư phúc đáp, tôi xin trân trọng cảm ơn !

Tranh chấp đất đã bàn giao để lấy tiền đền bù?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì vào năm 1996 bạn được giao ruộng khoán bên bãi cát tổng là 1.510m2 do ông D.V.T làm xóm trưởng ký giao, đến năm 2007 ông N.N.T làm xóm trưởng có ý kiến bên bãi cát trồng lúa không hiệu quả. Bên lưu hôi có ruộng của cô H.T.L trả lại là 3 sào và không làm nữa, lúc đó ông N.V.H nhà ở xóm 3 muốn mở trang trại bên bãi cát gần khu đó muốn chuyển đổi, bạn và bà B.T.L, nhà ở xóm 2 nhất trí chuyển và ông N.N.T dẫn tôi sang đồng lưu hôi bàn giao 3 sào của cô H. T. L. Khi đó sẽ áp dụng quy định tại Điều 24, Điều 25 Luật Đất đai 1993 (luật áp dụng tại thời điểm giao đất):

"Điều 24

Thẩm quyền giao đất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp được quy định như sau:

1- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao đất cho các tổ chức;

2- Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giao đất cho các hộ gia đình và cá nhân.

Điều 25

Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất quy định tại Điều 23 và Điều 24 của Luật này không được uỷ quyền cho cấp dưới."

Như vậy, việc xóm trưởng ký giao đất ruộng khoán cho bạn hay cô H.T.L thì đều không có hiệu lực và không thể áp dụng làm căn cứ để xác định chủ sở hữu quyền sử dụng đất. Để xác định chủ sở hữu quyền sử dụng đất đó thì phải căn cứ vào Hồ sơ địa chính và tình hình thực tế sử dụng đất. Theo thông tin bạn cung cấp thì gia đình bạn sử dụng đất ổn định từ năm 2007 đến nay và có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất với nhà nước, gia đình bạn thuộc vào trường hợp có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 101 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội nếu có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc sử dụng đất ổn định không có tranh chấp đến thời điểm bồi thường.

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Trong đó việc xác định sử dụng đất ổn định căn cứ vào quy định tai Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai cụ thể như sau:

- Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

- Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

+ Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

+ Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

+ Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

+ Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

+ Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

+ Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

+ Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

+ Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

+ Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

Để giải quyết tranh chấp này, bạn có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết đến UBND hoặc gửi đơn kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Việc xác định ai là người thắng kiện sẽ phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền giải quyết căn cứ và sự thật khách quan, các bằng chứng, tài liệu chứng cứ chứng minh và căn cứ quy định của pháp luật, chúng tôi chỉ cung cấp một số quy định pháp luật có thể làm căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bạn để bạn tham khảo, chúc gia đình bạn bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình.

>> Tham khảo nội dung: Hỏi đáp pháp luật về đất đai về cách thức giải quyết tranh chấp đất đai?

5. Xin tư vấn về tranh chấp đất thừa kế không di chúc?

Thưa Luật sư, ông bà nội tôi sinh được 8 người con, bố tôi là con trai út trong nhà. Ông Nội tôi đã chia các phần đất cho các con, trong đó bố tôi được ông cho phần đất khoảng 2.000m2 nhưng là diện tích mà ông bà nội tôi đang sinh sống. Do ông bà nội tôi không biết chữ nên chỉ nói miệng. Vì điều kiện sinh sống nên bố mẹ tôi đã dọn ra ở riêng ở phần đất khác mà bố mẹ tôi mua được.

Năm 1990, ông nội tôi mất còn lại bà nội tôi ở đó một mình. Năm 2009, bà nội tôi được bác tôi đón về nuôi. Khi đó bác tôi đòi chia phần đất mà ông nội đã để lại cho bố mẹ tôi. Khi này bà nội tôi vẫn còn minh mẫn, mạnh khỏe. Bố mẹ tôi và gia đình các bác khác thống nhất chia đôi phần đất đó cho bác tôi và gia đình tôi mỗi bên một nửa. Do cán bộ địa chính xã không làm sổ đỏ cho 2 gia đình nên chỉ có tên trên bản đồ địa chính xã. Hàng năm, gia đình tôi vẫn được thông báo nộp thuế và tham gia đóng góp thuế đầy đủ trên phần đất được chia. Có giấy tờ văn bản thông báo nộp thuế của Huyện và hóa đơn thu tiền thuế.

Năm 2014, bà nội tôi mất cũng do không biết chữ và cứ nghĩ mọi việc đất đai vậy là ổn thỏa nên bà không để lại di chúc gì. Đến năm 2015, bác tôi lại đòi thêm đất mà nhà tôi được chia. Gia đình tôi đã nhượng bộ và cắt thêm cho gia đình bác 200m2. Năm 2016, bác tôi lại tiếp tục đòi đất và đòi cho con trai của bác tôi đứng tên trên toàn bộ số đất mà ông bà nội tôi để lại (tổng diện tích 2.000m2).

Trong trường hợp này tôi và gia đình tôi cần làm gì để có thể hợp pháp hóa quyền sở hữu diện tích 1.000m2 đất được chia từ năm 2009 khi bà nội tôi chuyển về ở cùng gia đình bác tôi? Rất mong quý Công ty có thể tư vấn giúp tôi và gia đình. Trân trọng!

Xin tư vấn về tranh chấp đất thừa kế không di chúc ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp 1: Đất của ông bà bạn chưa có giấy tờ, tức là chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo quy định Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai về căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định, dựa theo thông tin bạn cung cấp, mảnh đất 1.000m2 của gia đình bạn được ông bà bạn để lại trước khi mất, chưa có sổ đỏ nhưng đã được vẽ trong bản đồ địa chính của xã, tức là mảnh đất đó đã được chính quyền địa phương chứng nhận quyền sở hữu trên bản đồ địa chính xã. Đồng thời, gia đình bạn đã đóng thuế đầy đủ từ thời điểm đó đến nay, có biên lai nộp thuế nhà đất, giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú tại nhà ở gắn với đất ở, giấy tờ nộp tiền điện nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại mảnh đất đó nên có đủ căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định của gia đình bạn.

Nếu mảnh đất đó không có tranh chấp, gia đình bạn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013:

- Mảnh đất đó đã được sử dụng ổn định từ trước này 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai.

- Nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất,quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch.

Vì vậy, gia đình bạn phải giải quyết tranh chấp trên trước, trong trường hợp này nếu như hai bên tiến hành hòa giải không thành thì bạn cần gửi đơn đến đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp đất để hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013.

Tuy nhiên, nếu như hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã không thành thì bạn được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết sau:

- Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền, đối với trường hợp này thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ giải quyết, nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì bạn có thể khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

- Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Cụ thể là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trường hợp 2: Đất của ông bà để lại đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu đất đai này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì di sản do bà bạn để lại được phân chia theo quy định của pháp luật do bà bạn không để lại di chúc. Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Như vậy, 2.000m2 đất này sẽ được chia đều cho những người thuộc 2 thừa kế thứ nhất của người chết nếu phần diện tích bác bạn đang sử dụng và bố bạn đang sử dụng đều chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức là chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Nếu trong trường hợp các bên xảy ra tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai về tự ý tháo dỡ phần mái nhà của hàng xóm khi xây dựng?

6. Giải quyết tranh chấp đất nghĩa địa?

Dòng họ tôi có khoảng 50 mồ mả chôn gần nhau trong nghĩa địa, thuộc địa phương quản lý. Gần khu dân cư sinh sống, nên thường xả rác, phân động vật, xác chết động vật và rác sinh hoạt lên mồ mả ông bà. Gia đình dòng họ cung báo chính quyền về vụ xả rác nhiều lần mà không giải quyết .

Nên tôi dựng tượng phật địa trạng cho khỏi xả rác, sạch sẽ môi trường và chính quyền nhiều lần vận động tháo gỡ. Vậy xin hỏi tôi dựng tượng có trái pháp luật không và lấn chiếm đất đai không? Mới đây chính quyền có thông báo phạt 4 triệu đồng, buộc tháo gỡ. Vậy xin hỏi chính quyền địa phương làm đúng pháp luật không? Gia đình xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Luật đất đai năm 2013 về những hành vi bị nghiêm cấm trong đó có hành vi lấn, chiếm, hủy hoại đất đai. Mặt khác, đất nghĩa địa không thuộc quyền sử dụng quản lý của bất cứ hộ dân nào kể cả hộ có mồ mả ông bà trên đó mà thuộc quyền quản lý của địa phương. Nên việc bạn lấn chiếm đất nghĩa địa để dựng tượng phật địa trạng là vi phạm với quy định của pháp luật đất đai.

Tại khoản 2, khoản 5 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:

"Điều 10. Lấn, chiếm đất

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này.

...

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này."

Với hành vi vi phạm pháp luật đất đai này, gia đình bạn có thể bị xử phạt hành chính theo quy định trên và buộc khôi phục lại tình trạng của như trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã lấn chiếm. Người có thẩm quyền xử lý, xử phạt vi phạm hành chính về vấn đề này thuộc về Chủ tịch UBND xã, chính quyền địa phương yêu câu bạn tháo gỡ và phạt vi phạm 4 triệu đồng là đúng theo quy đinh của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê