Ông A đứng ra giao dịch mua bán với bạn tôi, có công chứng của phòng công chứng số 2. Do tin tưởng người bạn. Tôi đã giao tiền đầy đủ theo giá người bạn báo, để người được uỷ quyền của ông A tiến hành làm thủ tục chuyển quyền, tách thửa đất cho tôi và người bạn thành 2 thửa riêng biệt. Thủ tục tiến hành làm xong, hẹn đến ngày 04/06/2015 đến nhận kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Trước lúc nhận kết quả, tôi có kiểm tra lại thông tin người bán của ông A, thì không đúng như bạn tôi báo lúc ban đầu như sau: + ông A không có bán đất này cho bạn tôi và cũng như không có làm hợp đồng uỷ quyền nào cho người khác đứng ra bán đất và nhận cọc tiền đất này. Theo lời ông A, thửa đất này chính ông đứng bán cho một người khác từ khoản cuối năm 2014. Và không có uỷ quyền người khác đứng ra giao dịch mua bán với bạn tôi vào thời gian từ đầu năm 2015. Như vậy người được uỷ quyền làm sao có được chữ ký của ông A (có luôn chữ ký của vợ ông A) trên hợp đồng uỷ quyền, có phải bạn tôi kết hợp với người được uỷ quyền và một số người khác mạo danh chữ ký giả của ông A và vợ ông A nhằm cho tôi chỉ biết tin tưởng người được uỷ quyền, mà không liên hệ được với ông A, để thao túng giá bán đất nhằm chiếm đoạt tiền của tôi chia nhau.

Qua trình bày trên, thưa luật sư, tôi có thể thưa ai trong việc mao danh chữ ký giả của ông A và vợ để làm giấy uỷ quyền đứng ra giao dịch mua bán đất của ông A. Thưa với tội danh gì đối với những người này và tôi có quyền huỷ thoả thuận mua bán này với bạn tôi không? Để lấy tiền tôi đưa cho bạn tôi. Mong luật sư tư vấn.

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: K.P

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Giải quyết trường hợp mạo danh chữ ký mua bán đất ? 

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 

Bộ luật hình sự bổ sung, sửa đổi 2009 

Bộ luật dân sự 2005 

Nội dung trả lời:

Về vấn đề thỏa thuận mua bán giữa bạn và bạn của bạn:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì có thể thấy bạn của bạn cùng người được ủy quyền đã giả mạo chử ký của ông A và vợ để làm giấy uỷ quyền đứng ra giao dịch mua bán đất của ông A. Bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối đe dọa.

Điều 132 Bộ luật Dân sự quy định như sau:

"Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình."

Vì vậy bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối. Khi đó bên bạn của bạn và người được ủy quyền bán đất có nghĩa vụ phải trả lại tiền cho bạn vì Điều 137 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Thời hiệu để bạn yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch trên vô hiệu là 2 năm theo quy định  tại Điều 136 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 136. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập.

2. Đối với các giao dịch dân sự được quy định tại Điều 128 và Điều 129 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế."

Do đó để đảm bảo quyền lợi cho mình và nhanh chóng lấy lại số tiền thì bạn nên sớm làm đơn yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ viết và cung cấp các thông tin chứng cứ cho Tòa để sớm được giải quyết.

Về vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự:

Qua thông tin của bạn có thể thấy hành vi giả mạo chữ ký của bạn của bạn và người được ủy quyền bán đất là hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của những người này có dấu hiệu vi phạm pháp luật luật hình sự quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy nếu bạn có đủ chứng cứ chứng minh chữ ký của ông A hoàn toàn là giả mạo thì bạn có thể tới cơ quan công an để trình báo về hành vi của bạn của bạn và người được ủy quyền bán đất.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email luatsu@luatminhkhue.vn hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ.