Bà tôi tuổi đã cao nên thấy như vậy rất vui và sau nhiều lần tham gia đóng tiền vào công ty có rủ thêm con cháu trong gia đình cùng tham gia nhưng mọi người trong gia đình đều khuyên ngăn nhưng bà không nghe và vẫn cho là họ tốt. Đến nay, bà bị một người đàn ông đến đón cả 2 ông bà đi và kí vào rất nhiều giấy tờ nhưng vì ông bà lớn tuổi không hiểu rõ giấy tờ gì và đã kí hết vào. Và bây giờ ngân hàng thông báo cho gia đình là sổ đỏ của gia đình đã chuyển cho một người khác đó chính là người đã dẫn 2 ông bà đi. Vậy nên hiện giờ gia đình tôi rất lo lắng về vấn đề này và kính mong luật sư tư vấn giúp tôi làm thế này để gia đình tôi có thể lấy lại được số tiền và sổ đỏ mà bà tôi đã bị lừa?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai công ty Luật Minh khuê. 

>> Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn đã được đội ngũ Luật sư chúng tôi nghiên cứu dựa trên một số quy định của pháp luật điều chỉnh. Chúng tôi xin được phân tích theo hướng cụ thể như sau:

1.Cơ sở pháp luật:

- Bộ luật dân sự năm 2005

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật đất đai năm 2013

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009

2.Nội dung tư vấn:

Trước tiên, theo chúng tôi nhận thấy Căn cứ vào Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định về các trường hợp được coi là giao dịch vô hiệu và hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sự dụng đất như sau:

Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Theo đó, " Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 17 Bộ luật này)..

Điều 689. Hình thức chuyển quyền sử dụng đất

1. Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

3. Việc thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 733 đến Điều 735 của Bộ luật này.

Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp "Bà bạn bị những người của 1 công ty lừa đảo để tham gia vào đa cấp" và ông bà lớn tuổi không hiểu rõ giấy tờ gì và đã kí vào một số giấy tờ". Vấn đề này bạn cần phải có căn cứ rằng Công ty đó có hành vi "lừa đảo" và việc Bà bạn ký các loại giấy tờ do đó phải chứng minh được là không tự nguyện, mục đích giao dịch đó trái với quy định pháp luật trái với đạo đức xã hội.

Bên cạnh đó, bạn phải xem GCN QSDĐ mà Công ty kia cấp đổi từ GCN QSDĐ lại là Ngân hàng thông báo và việc cấp đó có tuân theo quy định của  Luật đất đai năm 2013 hay không?. Đó là:

Bước 1: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập hợp đồng , các bên phải kê khai lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, nếu quá thời hạn trên sẽ bị phạt theo quy định của nhà nước.

Bước 2: Tiến hành kê khai nghĩa vụ tài chính tại UBND cấp quận/ huyện nơi có nhà, đất

Hai bên cần chuẩn bị một bộ hồ sơ nộp tới Ủy ban nhân dân quận/ huyện nơi có nhà, đất chuyển nhượng.

- Tờ khai lệ phí trước bạ (02 bản do bên mua ký)

- Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (02 bản do bên bán ký).

- Hợp đồng công chứng đã lập (01 bản chính)

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)

- CMND + Sổ hộ khẩu của cả bên mua và bên bán (01 bản sao có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền)
Thời hạn có thông báo nộp thuế: 10 ngày Sau khi có thông báo thì người nộp thuế nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

+ Thuế sang tên sổ đỏ:

- Thuế thu nhập cá nhân: 2 % 

- Thuế trước bạ: 0,5 % (theo quy định tại Nghị định số 45/2011/NĐ-CP)

Điều 2.Đối tượng chịu lệ phí trước bạ.

1. Nhà, đất.

Điều 6. giá tính lệ phí trước bạ.

Giá tính lệ phí trước bạ là giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành.

Bộ Tài chính quy định cụ thể trình tự, thủ tục ban hành giá tính lệ phí trước bạ quy định tại Điều này.

Điều 7.Mức thu lệ phí trước bạ theo tỷ lệ (%)

1. Nhà, đất mức thu là 0,5%.
Bước 3: Kê khai hồ sơ sang tên tại Ủy ban nhân dân quận/ huyện nơi có nhà, đất

Hồ sơ kê khai gồm các giấy tờ sau:

- Hợp đồng chuyển nhượng.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (bản gốc)

- Biên lai nộp tiền vào ngân sách nhà nước (bản gốc)

- Bản sao CMND + Sổ hộ khẩu của bên nhận chuyển nhượng

 Lệ phí sang tên sổ đỏ trường hợp tặng cho gồm:

+ Lệ phí địa chính: 15.000 đồng/trường hợp;

Điều 105. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

3. Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện các quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì do cơ quan tài nguyên và môi trường thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Nhận thấy, thủ tục Xin cấp đổi GCN QSDĐ bao gồm nhiều thủ tục và phải liên quan đến nhiều loại giấy tờ về gia đình mà trong khi ban đầu mới chỉ là Khuyên Ông bà không tham gia vào việc Chữ bệnh, Magssa đã nhận được thông báo GCN QSDĐ gia đình bạn đã được chuyển đổi cho người khác. 

Tóm lại, vấn đề của gia đình bạn phải làm rõ được tính hợp pháp của giao dịch giữa Ông bà bạn với Công ty. Gia đình bạn có chứng minh được giao dịch đó là trái với quy định pháp luật như: Chữ ký hợp đồng giả tạo, ép buộc hay lừa dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản....(trái quy định về mặt nội dung hoặc hình thức) hoặc trái với đạo đức xã hội (tức là giao dịch dân sự vô hiệu) và việc xin cấp đổi GCN QSDĐ đó có trái với quy định của Pháp luật hay không:

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Ngoài ra, theo quy định của  Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

MỘT SỐ DẤU HIỆU PHÁP LÝ CẤU THÀNH TỘI PHẠM:

"Thủ đoạn gian dối" ở đây chúng ta có thể hiểu là một người phạm tội đã sử dụng mọi phương pháp để che dấu bằng cách đưa ra những thông tin không đúng sự thật như dùng lời nói dối trá; giấy tờ giả mạo; giả danh người có vụ quyền hạn; giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng hoặc kết hợp tất cả các cách làm nói trên. Với những thủ đoạn này người phạm tội làm cho người chủ tài sản tin nhầm tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay mà “tự nguyện” trao tài sản để họ chiếm đoạt tài sản đó. Do đó hành vi gian dối có tình chất sau đây:

Hành vi gian dối phải có trước hoặc đi liền với hành vi chiếm đoạt, hai hành vi này có mối quan hệ nguyên nhân: Tức là thủ đoạn gian dối của người phạm tội là nguyên nhân trực tiếp, điều kiện trực tiếp của kết quả, mục đích chiếm đoạt- chuyển dịch tài sản từ người quản lý sang người phạm tội.

Thủ đoạn gian dối của người phạm là căn cứ để người bị hại “tự nguyện” trao tài sản: Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc chiếm đoạt tài sản phải được thể hiện dưới hình thức tự nguyện. Có nghĩa là, vì tin vào những thông tin sai sự thật của người phạm tội mà người bị hại đã “tự nguyện” trao tài sản cho người phạm tội, khác với trong tội cướp hay cướng giật, tài sản rơi vào tay người phạm tội, sự dịch chuyển tài sản từ người bị hại hoàn toàn là do hành vi vũ lực, cưỡng ép... của người phạm tội, hoàn toàn không xuất hiện yếu tộ “tự nguyện” như trong lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nếu xét thấy và có chứng cứ cho rằng Công ty kia có các hành vi thỏa mãn một số dấu hiệu như đã phân tích ở trên thì có tố cáo về hành vi Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009) và người có hành vi phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt theo quy định tại các khoản 1,2,3,4  và có thể phải chịu hình phạt bổ sung tại khoản 5 điều 139 Bộ luật này).

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê