1. Hỏi về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai 2013?

Thưa Luật sư, xin cho biết điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai 2013? Xin chân thành cảm ơn Luật sư.
Người gửi: Tr.Q.V

Hỏi về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai 2013?

Luật sư tư vấn đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Luật đất đai 2013 quy định về các trường hợp cũng như điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư như sau :

"Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo thì tuân theo quy định tại điều 102 Luật đất đai 2013

"Điều 102. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất
1. Tổ chức đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần diện tích đất sử dụng đúng mục đích.
2. Phần diện tích đất mà tổ chức đang sử dụng nhưng không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được giải quyết như sau:
a) Nhà nước thu hồi phần diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, cho mượn, cho thuê trái pháp luật, diện tích đất để bị lấn, bị chiếm;
b) Tổ chức phải bàn giao phần diện tích đã sử dụng làm đất ở cho Ủy ban nhân dân cấp huyện để quản lý; trường hợp đất ở phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì người sử dụng đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã được Nhà nước giao đất mà doanh nghiệp đó cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng một phần quỹ đất làm đất ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì phải lập phương án bố trí lại diện tích đất ở thành khu dân cư trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất phê duyệt trước khi bàn giao cho địa phương quản lý.
3. Đối với tổ chức đang sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước cho thuê đất quy định tại Điều 56 của Luật này thì cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh làm thủ tục ký hợp đồng thuê đất trước khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
4. Cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Được Nhà nước cho phép hoạt động;
b) Không có tranh chấp;
c) Không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho sau ngày 01 tháng 7 năm 2004.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất mong sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

2. Tư vấn về việc chính quyền không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Thưa Luật sư: Em muốn khiếu nại hành vi,sai trái tranh chấp đất giữa chính quyền địa phương xã cần đăng và hộ gia đình sở hữu đất cá nhân. Cha em thuộc thương binh hạng 3/4. Gia đình em có mua phần đất thổ cư hơn 100m2 và 1 phần đất ao sau nhà ra 7m và chạy dài cập đất thổ cư đến mương ấp chiến lượt vào năm 1993.

Có xác nhận của chính quyền địa phương xã lúc bấy giờ, và gia đình em xây cất với diện tích hơn 55m2 đất trong phạm vi 100m2 đất thổ cư và phần đất ao.( ngang 4,20* dai 14m ) , và gia đình được nhà nước trao tặng nhà tình nghĩa năm 1998 trên phạm vi hơn 55m2 , phần còn dư gia đình có sang nhượng lại cho 1 hộ cá nhân cập bên với diện tích (4*10 ) tại thời điểm bấy giờ.

Vậy hiện phần đất còn dư lại và phần đất mà gia đình em đang ở và sở hữu tầm 100m2 đất, tất cả phần trên điều được sử dụng và cất nhà ở cho đến nay. Nhưng khi gia đình yêu cầu phía chính quyền xã cần đăng cấp giấy CNQSDĐ. Thì phía chính quyền hiện nay không thừa nhận phần đất trên của gia đình em . Và chỉ cấp cho gia đình em sở hửu với diện tích (4*10), tất cả phần còn dư lại thuộc địa phương quản lý.

Và gia đình em phải mua lại với gia trị hơn 2.500.000₫ /m2. Đất là do gia đình em tạo dựng bằng mồ hôi nước mắt, chính quyền không cấp cho mà còn tranh chấp chiếm đoạt. Nhà em qua nhiều lần sửa chửa vì hư hao,mà viết đơn cầu xin từ phía chính quyền hổ trợ, hơn 12 năm qua vẫn chưa có câu trả lời từ chính quyền địa phương.

Vậy cho em xin hỏi:

1. Luật đất năm 1993 do nhà nước quy định đến nay còn hiệu luật không?

2. Phía nhà nước và chính quyền có đền bù công lao thoả đáng cho công sức lao động hy sinh mà máu cha em đã đỗ xuống bảo vệ đất nước không ? quy định của chính phủ về bồi đắp ,đền bù nhu cầu cuộc sống cho các chiến sĩ thương binh hiện nay có được áp dụng không?

Cảm ơn luật sư!

Tư vấn về việc chính quyền không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai về cấp sổ đỏ trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Hiệu lực của Luật Đất đai năm 1993

Hiện nay, Luật Đất đai năm 1993 đã hết hiệu lực, văn bản pháp luật điều chỉnh hiện hành là Luật Đất đai năm 2013.

2. Chế độ ưu đãi đối với thương binh

Hiện nay, chế độ của thương binh tương ứng với tỷ lệ thương tật. Trươc đây, pháp luật quy định thương binh theo hạng, theo đó, thương binh hạng 3/4 (Thông tư liên tịch 32-TT/LB) có tỷ lệ thương tật từ 41% đến 60%. Văn bản hiện hành, thì chế độ ưu đãi được xác định theo tỷ lệ thương tật của thương binh.

Khoản 4 Điều 4 và Khoản 5 Điều 20 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và Điều 55 Nghị định 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định thương binh được hưởng chế độ ưu đãi về nhà ở như sau:

“Nhà nước có chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình người có công với cách mạng”.

Tuỳ theo điều kiện và khả năng của địa phương, việc hỗ trợ người có công với Cách mạng cải thiện nhà ở có thế áp dụng một trong các hình thức sau đây (căn cứ Điều 2 Quyết định số 118/TTg ngày 27/02/1996 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 117/2009/QĐ-TTg):

- Người có công với Cách mạng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt không thể tạo lập được nhà ở mà chưa được thuê nhà của Nhà nước hoặc bị mất nhà do thiên tai, hoả hoạn... thì tuỳ theo điều kiện của địa phương, hoàn cảnh và công lao của từng người được xét tặng "Nhà tình nghĩa", được giao đất làm nhà ở, hoặc được mua nhà trả góp.

- Người có công với Cách mạng đã có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng nhà ở quá dột nát, chật chội, không bảo đảm điều kiện sống trung bình so với cộng đồng nơi họ cư trú mà không có khả năng khắc phục thì tuỳ theo hoàn cảnh của từng người và khả năng của từng địa phương mà hỗ trợ họ cải tạo, sửa chữa nhà ở.

- Người có công với Cách mạng là thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên nếu mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước thì được hỗ trợ toàn bộ tiền sử dụng đất đối với nhà ở nhiều tầng, nhiều hộ ở và đối với nhà ở một tầng và nhà ở nhiều tầng có một hộ ở.

Như vậy, từ những quy định trên, chúng ta có thể thấy nhà nước luôn có những chính sách để đền ơn những người đã cống hiến cho đất nước. Và các quy định ưu đãi đối với thương binh hiện này vẫn được áp dụng

Giải quyết tình huống của bạn: theo thông tin bạn cung cấp, bạn sử dụng đất đã từ lâu, giao dịch mua bán cũng được địa phương xác nhận. Tuy nhiên, chính quyền địa phương không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bạn. Do đó, bạn cần làm đơn khiếu nại gửi lên cơ quan có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân cấp huyện) để được giải quyết. Nếu không được giải quyết thì bạn có thể thực hiện khởi kiện ra Tòa.

Xem thêm một số văn bản pháp lý điều chỉnh vấn đề trên:

Luật đất đai năm 2013

Thông tư liên tịch 32-TT/LB Quy định về tiêu chuẩn thương tật 4 hạng (mới) và hướng dẫn cách chuyển đổi các hạng thương tật cũ, cách khám giám định thương tật theo các hạng thương tật mới

Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : Ưu đãi người có công với cách mạng

Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 của ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI : PHÁP LỆNH SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

Nghị định sửa đổi Nghị định 31/2013/NĐ-CP hướng dẫn Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng

Quyết định 117/2007/QĐ-TTg Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 118/TTg ngày 27 tháng 02 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở và Điều 3 Quyết định số 20/2000/QĐ-TTg ngày 03 tháng 02năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 cải thiện nhà ở

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất khai phá ?

Xin chào công ty Luật, Em xin phép hỏi một việc như sau: sau đất nhà em có một cái ao năm 1995 nhà em sử dụng và khai phá thêm để nuôi cá , năm 2003 nhà em xin san lấp để tránh ô nhiễm và được UBND đồng ý. Hiện giờ nhà em sử dụng vào mục đích trồng cây ăn trái, và vì mảnh đất thuộc quy hoạch là khu dân cư nên nhà em muốn xin UBND cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .

Mà mảnh đất trên chỉ có chữ ký của 2 bên còn 1 hộ gd không tranh châps nhưng họ không ký giáp ranh. Vậy cho em hỏi nhà em có thể xin được mảnh đất đó không?

Em cám ơn!

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất khai phá ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai gọi số : 1900.6162

Trả lời:

Đến thời điểm hiện tại, Sử dụng Luật đất đai năm 2013: Khoản 1, Điều 99, Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội có quy định về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

" Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:

a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;

b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;"

Trong trường hợp này, mảnh đất bạn sử dụng ổn định từ trước đến nay nhưng chưa làm giấy chứng nhận quyền sử dụng, đồng thời cũng không có tranh chấp nên thuộc vào trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Điểm a- Khoản 5- Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai như sau:

"Điều 20. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và không vi phạm pháp luật đất đai

5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;"

Vậy gia đình bạn đảm bảo được các điều kiện trên, chỉ cần không có tranh chấp tài thời điểm yêu cầu làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là gia đình bạn có thể làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Vế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Chào Luật sư! Tôi có một số câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi có một lô đất ở từ năm 1998, năm 2003 tôi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, cơ quan thuế xác định tiền sử dụng đất phải nộp với mức nộp là 100%. ( thực hiện theo NĐịnh 38) Năm 2011, tôi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với lô đất thứ 2, nguồn gốc lô đất là nhận chuyển nhượng từ năm 1997 có nhà ở ổn định.

Cơ quan thuế xác định số tiền sử dụng đất phải nộp là 100%. Với lý do là lô đất thứ 2( Thực hiện theo NĐ 198) Xin hỏi việc cơ quan thuế xác định tiền sử dụng đất đối với lô đất thứ 2 là 100% như vậy có đúng không? Căn cứ để thực hiện?

Xin được tư vấn cụ thể, tôi xin chân thành cảm ơn!

Vế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

- Căn cứ vào điều 8 Nghị định Số: 198/2004/NĐ-CP..

Điều 8. Thu tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa nộp tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất theo căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 và điểm b, c khoản 2 Điều 6 Nghị định này.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 50 của Luật Đất đai 2003 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất được tính theo giá bằng 50% giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở do tổ chức sử dụng đất được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất, tự chuyển mục đích sử dụng đất sang làm đất ở và đã phân phối đất ở đó cho cán bộ, công nhân viên của tổ chức trong thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này, cụ thể như sau:

a) Thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở; quy định này chỉ được thực hiện một lần đối với hộ gia đình, cá nhân; lần giao đất sau thu 100% tiền sử dụng đất;

b) Thu tiền sử dụng đất bằng 100% tiền sử dụng đất đối với diện tích vượt hạn mức giao đất ở.

Căn cứ vào điều 83 và điều 84 của luật đất đai 2003 quy định về thẩm quyền quy định hạn mức giao đất ở.

Điều 83. Đất ở tại nông thôn

1. Đất ở của hộ gia đình, cá nhân tại nông thôn bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư nông thôn, phù hợp với quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

2. Căn cứ vào quỹ đất của địa phương và quy hoạch phát triển nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định hạn mức đất giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở tại nông thôn phù hợp với điều kiện và tập quán tại địa phương.

3. Việc phân bổ đất ở tại nông thôn trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đồng bộ với quy hoạch các công trình công cộng, công trình sự nghiệp bảo đảm thuận tiện cho sản xuất, đời sống của nhân dân, vệ sinh môi trường và theo hướng hiện đại hoá nông thôn.

4. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho những người sống ở nông thôn có chỗ ở trên cơ sở tận dụng đất trong những khu dân cư sẵn có, hạn chế việc mở rộng khu dân cư trên đất nông nghiệp; nghiêm cấm việc xây dựng nhà ở ven các trục đường giao thông trái với quy hoạch khu dân cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Điều 84. Đất ở tại đô thị

1. Đất ở tại đô thị bao gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống trong cùng một thửa đất thuộc khu dân cư đô thị, phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

2. Đất ở tại đô thị phải bố trí đồng bộ với đất sử dụng cho mục đích xây dựng các công trình công cộng, công trình sự nghiệp, bảo đảm vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị hiện đại.

3. Nhà nước có quy hoạch sử dụng đất để xây dựng nhà ở tại đô thị, có chính sách tạo điều kiện để những người sống ở đô thị có chỗ ở.

4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giao đất ở hoặc cho thuê đất ở tại đô thị trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất ở cho tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện theo dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê;

b) Cho thuê đất ở thu tiền thuê đất hàng năm đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê;

c) Cho thuê đất ở thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê theo quy định của Chính phủ.

5. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị và quỹ đất của địa phương quy định hạn mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng nhà ở đối với trường hợp chưa đủ điều kiện để giao đất theo dự án đầu tư xây dựng nhà ở.

6. Việc chuyển đất ở sang đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị và tuân thủ các quy định về trật tự, an toàn, bảo vệ môi trường đô thị.

Như vậy, với lô đất thứ 2 của bạn công nhận quyền sử dụng đất năm 2011, áp dụng luật đất đai 2003 (Luật đất đai 2003) và nghị định 198 để thu tiền sử dụng đất cơ quan nhà nước sẽ căn cứ vào hạn mức giao đất ở của bạn để làm cơ sở thu tiền sử dụng đất đối với mảnh đất của bạn. Cơ quan thuế sẽ thu 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở, quy định này được thược hiện một lần đối với hộ gia đình và cá nhân, lần giao đất sau thu 100% tiền sử dụng đất. và thu 100% tiền sử dụng đất của bạn đối với diện tích vượt hạn mức giao đất ở, tùy thuộc vào diện tích lô đất của bạn. Quy định cụ thể về hạn mức đất ở có vượt quá hay không còn tùy thuộc vào tình hình và quy định của từng địa phương do Ủy ban nhân dân từng nơi quy định. Để biết hơn về hạn mức giao đất ở địa phương của bạn quy định như thế nào bạn có thể tra thêm các nghị định liên quan hoặc gọi điện cho chúng tôi để được giải đáp thắc mắc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đất đang tranh chấp ?

Chào luật sư công ty Luật Minh Khuê. Năm 2013 gia đình tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lô số 9, ngày 15/10/2014 ông A khởi kiện bác bỏ GCN sử dụng đất lô đất số 9 của gia đình tôi. Đến 9/9/2015, tòa đã bác bỏ đơn khởi kiện của ông A. 20/9/2015 Ông A có đơn kháng cáo yêu cầu tòa án phúc thẩm hủy GCN quyền sử dụng đất.
Và ngày 25/2/2016 tòa án tuyên xử giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm ngày 9/9/2015 của tòa án Ngày 30/3/2016 UBND đã có công văn yêu cầu giao lô đất số 9 cho gia đình tôi. tuy nhiên ngày 5/4/2016 ông A lại tiếp tục làm đơn khởi kiện gia điình tôi, hiện tại tòa án đang thụ lý vụ án. Xin hỏi vậy gia đình tôi có được cấp giấy sử dụng lô đất đó không. theo quy định tại điều nào của luật đất đai ?
Xin chân thành cảm ơn

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đất đang tranh chấp ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai gọi số : 1900.6162

Trả lời:

Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đát đai như sau:

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Trong trường hợp, gia đình Ông A khởi kiện gia đình bạn và đã được Tòa án có thẩm quyền giải quyết trước đó tại bản án sơ thâm và phúc thẩm đều tuyên gia đình bạn là người sở hữu hợp pháp mảnh đất trên và bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định thì Ông A không có quyền khởi kiện gia đình bạn được nữa. Chỉ khi phát hiện có sự vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước đó thì có thể được giải quyết theo thủ tục Giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi 2011.

Điều 284. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Đương sự hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Tư vấn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mua từ năm 1988 có sổ xanh chủ cũ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Nhà em ở Pleiku- Gialai được Bố mua năm 1988, có sổ xanh chứng nhận quyền sử dụng đất với tên vợ chồng chủ cũ, và 1 giấy mua bán (giấy khoai lang) được chứng nhận của phường xã năm 1992 có chữ kí của những bên liên quan, ngoài ra còn có 1 bản vẽ nhà đất ngày ấy, nhưng có 1 điều bất cập là bản vẽ chỉ vẽ diện tích nhà có lợp mái tôn khoảng 90m2 còn đường luồng và diện tích sân trước thì ko có trong bản vẽ.

Thực tế diện tích nhà em là 5,4m x 26m còn trong bản vẽ chỉ có 4,3m x 17,8m. Nên giờ lên UBND người ta hướng dẫn thủ tục là chuyển quyền sử dụng đất như trong sổ cũ có diện tích 90m2 trước rồi đóng thuế khoảng 20 triệu xong tiếp tục nhờ địa chính xuống đo đạc thực tế làm giấy phép hoàn công phần diện tích sân trước nhà (đã xây thành nhà 1 tầng mái tôn năm 1992, diện tích là 9m x 5,4m) mới bắt đầu hợp thực hóa phần đất còn lại và sẽ tốn rất nhiều tiền. Như vậy chẳng khác nào là nhà em mới mua nhà và làm thủ tục kiểu năm 2014 mà ko có chính sách ưu đãi nào. Cuối cùng theo em tìm hiểu luật đất đai 50 thì nhà em thuộc diện có sổ xanh, có giấy mua bán trước năm 1993 trong diện không tốn tiền làm sổ. Vậy cho em xin ý kiến xem phải làm thế nào thưa Luật sư ?

Em xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.H.P

Tư vấn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mua từ năm 1988 có sổ xanh chủ cũ ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Điều 100 Luật đất đai năm 2013 quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau:

"Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

..."

Đối với trường hợp của bạn, nhà bạn đã được mua từ năm 1988, có sổ xanh chứng nhận quyền sử dụng đất với tên vợ chồng chủ cũ, 1 giấy mua bán được chứng nhận của phường xã năm 1992 có chữ kí của những bên liên quan, do đó, căn cứ vào quy định trên, nhà bạn thuộc diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

Đồng thời, khoản 5 Điều 98 Luật đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

"5. Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.

Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này."

Với thông tin mà bạn cung cấp: Diện tích đất thực tế diện tích nhà bạn là 5,4m x 26m còn trong bản vẽ chỉ có 4,3m x 17,8m, căn cứ vào khoản 5 Điều 98 như đã trình bày trên, nhà bạn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế là 5,4m x 26m.

Như vậy, cách giải quyết của UBND là sai, trong trường hợp này, bạn có thể nộp đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê