Đến năm 1975, bác Hai của em với cưng vị người anh cả trong gia đình chia 25.000m2 ra cho 4 người : bác Hai, cha em, cô Ba, cô Năm. Trên diện tích đất đã chia này, đã được sự đồng ý của mọi người, và đã đăng ký thuế nông nghiệp năm 1998 lần 1 và 2014 lần 2 => cấp sổ hồng đầy đủ.

Nói về phần bác Tư đã mất, bác có 1 người vợ cùng 1 người con gái. Lúc anh em phân chia đất đai, vợ bác Tư đã không còn ở chung trên mảnh đất này. Hiện nay, người con gái này quay về tìm cha em để lấy lại phần đất mà lý ra bác Tư em được nhận. Người này còn cầm theo bản di chúc (chỉ nhìn thấy được bản photocopy) có chữ ký cả ông nội và bà nội, không có ngày tháng, không người làm chứng, không chứng thực chính quyền với nội dung là vẽ bản đồ sơ họa đất đai, diện tích chia đều cho 5 người con. Điều đáng nói là bà nội em không biết chữ, nhưng chữ ký rất đẹp. Nên rất nhều nghi vấn, người lớn thì hiện tại không còn ai để chứng minh.

Vậy em nhờ Luật sư giải đáp giúp em 2 trường hợp:

1. Tờ di chúc này liệu có hợp pháp không nếu khởi kiện?

2. Nếu tờ di chúc không hợp pháp về quyền thừa kế liệu có phải là vẫn chia đều cho 5 người không?

Rât mong công ty Luật Minh Khuê xem và phản hồi giúp em. Em xin chân thanh biết ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục pháp luật dân sự công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.1940

 

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được giải đáp các thắc mắc của bạn như sau:

I. Cơ sơ pháp lý

Bộ Luật Dân sự 2005

II. Nội dung phân tích

Điều 652. Di chúc hợp pháp  

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. 

Điều 653. Nội dung của di chúc bằng văn bản   

1. Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

d) Di sản để lại và nơi có di sản;

đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Điều 655. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 653 của Bộ luật này.

Như vậy, di chúc bắng văn bản có thể không cần người làm chứng và công chứng, chứng thực tuy nhiên phải đáp ứng các điều kiện về nội dung của di chúc tại Điều 653 và khoản 1 Điều 652 BLDS.  Theo như thông tin mà bạn cung cấp, bản di chúc này không ghi rõ ngày tháng năm lập di chúc thì bản di chúc này là không hợp lệ.

Như vậy phần đất đai của ông bà bạn để lại phải được phân chia cho những người thừa kế theo pháp luật. 

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật  

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà bạn là: bác Hai, cô Ba, bác Tư, cha bạn, cô Năm. Như vậy, di sản của ông bà bạn để lại phải được chia đều cho 5 người.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.1940. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai