- Năm 2006 bố mẹ tôi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ mảnh đất với chủ sở hữu là bố mẹ tôi (không có di chúc của bà tôi) và bố mẹ tôi vẫn ở cùng bà trên mảnh đất đó đến nay.

- Năm 2015 bà tôi mất nhưng không có di chúc gì. Nay vợ chồng bác tôi đòi hỏi bố mẹ tôi chia lại (sang tên) cho bác tôi 1 phần của mảnh đất do cha ông để lại với lý do bác đưa ra là: thứ 1, Đất là do cha ông để lại nên bác cũng phải được 1 phần thừa kế. Thứ 2, Sổ đỏ bố mẹ tôi làm mang tên bố mẹ tôi chưa chắc đã được sự đồng ý của bà.Vậy tôi xin hỏi luật sư việc đòi hỏi của bác tôi như vậy là đúng hay sai? Cám ơn luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về việc xác nhập đất 5%

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự qua tổng đài 24/7: 1900.6162.

 

Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:

 

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Luật Đất đai 2003

2. Nội dung phân tích:

Do năm 2006 bố mẹ bạn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho toàn bộ mảnh đất với chủ sở hữu là bố mẹ bạn, thời điểm này Luật đất đai 2003 đang có hiệu lực thi hành.

Trường hợp thứ nhất, theo như bạn đề cập, mảnh đất này là đất thổ cư, không có tranh chấp và trường hợp nếu có hợp đồng tặng cho giữa bà bạn và bố mẹ bạn thì căn cứ theo Điều 52 Luật đất đai 2003 quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
3. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 Điều này được uỷ quyền cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp.
4. Chính phủ quy định điều kiện được ủy quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Với trường hợp này cùng điều kiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 52 nêu trên thì Giấy chứng nhận mà bố mẹ bạn được cấp là hợp pháp, bác bạn không có quyền đòi hỏi chia lại mảnh đất.

Trường hợp thứ hai, bên có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào thời điểm đó (2006) chưa điều tra cụ thể, xem xét mảnh đất này có tranh chấp hay không nhưng đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố mẹ bạn. Căn cứ theo quy định Điều 106 Luật Đất đai 2003 thì:

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 110; khoản 2 và khoản 3 Điều 112; các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 113; khoản 2 Điều 115; điểm b khoản 1, các điểm b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 119; điểm b khoản 1, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 120 của Luật này khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

Do vậy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bố mẹ bạn được cấp sẽ không được coi là hợp pháp. Khi đó, trong trường hợp này, yêu cầu chia lại một phần đất cho cả bác bạn sẽ được xem xét. Vì bà bạn mất không để lại di chúc nên theo quy định tại điều 675 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 trường hợp của bạn sẽ được chia theo pháp luật:
1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:
a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp
Khi đó, phần di sản thừa kế do bà bạn để lại sẽ được chia cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là bác bạn và mẹ bạn. Phần di sản được thừa kế được chia theo quy định tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005:
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

Bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật dân sự.