Bà T là người giữ sổ đỏ của mảnh đất đó, sau đó bà T bán lại cho bà S thì có hợp đồng mua bán công chứng. Nhưng khi bà S bán lại đất cho bố mẹ chồng tôi thì không công chứng được nữa , nên việc mua bán chỉ là giấy tờ viết tay giữa 2 bên.  Sau đó bố mẹ chồng tôi có viết giấy cho vợ chồng tôi 25m2 đất, có chữ ký của cả gia đình. Nhưng đến năm 2015 thì chị chồng tôi lại có ý định chiếm 25m2 của vợ chồng tôi( được sự đồng ý của bố mẹ chồng tôi) đã viết một bản giấy tờ mua bán đất khác, mà lần này là bà S bán trực tiếp mảnh đất 25m2 cho chị chồng tôi chứ không phải cho bố mẹ chồng tôi nữa. Bên cạnh đó giấy tờ mua bán viết tay lần này lại có đóng dấu của công an xã. Mà lần mua bán trước thì không có. Xin luật sư cho biết như vậy thì vợ chồng tôi có lấy lại được 25m2 của mình nữa không?.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Hợp đồng tặng cho bất động sản không được công chứng, chứng thực ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật MInh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Luật đất đai 2013 

Nội dung tư vấn:

Khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

"2. Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật."

Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định như sau:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này"

Theo các quy định trên, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (mua bán đất đai) thì bắt buộc phải công chứng tại cơ quan có thẩm quyền, như vậy việc bố mẹ bạn và bà S chỉ có giấy tờ viết tay, có chữ kí của hai bên thì hợp đồng chuyển nhượng này chưa phát sinh hiệu lưc. Bố mẹ chưa có quyền sử dụng mảnh đất đó.

Ngoài ra Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai 2013 còn quy định về điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất như sau:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất."

Như vậy bố mẹ chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với mảnh đất đó nên sẽ không có quyền tặng cho mảnh đất đó cho vợ chồng bạn. Tại Điều 467 Bộ luật dân sự 2005 quy định về tặng cho bất động sản như sau:

"Điều 467. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản."

Như vậy việc bố mẹ bạn tặng cho vợ chồng bạn mảnh đất đó cũng không đúng với yêu cầu của pháp luật về hình thức của hợp đồng tặng cho bất động sản. Theo đó bạn mảnh đất chưa thuộc thẩm quyền sử dụng của vợ chồng bạn và vợ chồng bạn không thể đòi lại mảnh đất đó.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT ĐẤT ĐAI