Được gia đình sử dụng đất và tổ, xóm , thôn, ubnd xã ký đóng dấu xác nhận .tháng 10 năm 1991 tôi làm nhà trên mảnh đất đó với diên tích khoảng 60m2 nhà gỗ , và cho chị gái cùng 02 cháu gái nhỏ về ở ( bé lớn 4 tuổi và nhỏ 2 tuổi , chồng chết) và trông nom vườn cây /thàng 12 năm 1991 tôi được thi tuyển vào quân đội nhân dân việt nam và vào nam công tác cho tới nay. để chuẩn bị về hưu năm 2016 tôi đề nghị chi gái cho xem giấy tờ nhà đất để tôi kê khai làm sổ đỏ .và có ý định xây nhà ở lâu dài cuối đời cung chị và về hưu sống với quê hương - bà con lối xóm/ song được bà chị cho biết chị đã đứng tên sổ đỏ ( hiện chị sống 1 mình) và tôi không có quyền gì hết . sau đó tôi xin chị gái 12 m / 48 m ngang của thửa đất nhưng không được chấp thuận.

Vậy xin hỏi luật sư:

- Giấy tờ gốc thửa đất được THỪA KẾ tôi còn cất gữi, thì có hiệu lực pháp luật không  ?

- Về đạo lý làm người thì xử lý thế nào ?

- Nguồn gốc đất như vậy có đươc xác nhận là đất ở 100% không theo nghị đinh 45 khi tôi làm lại giấy tờ đúng chủ sở hữu ?

Cám ơn luật sư cho thêm tri thức pháp luật xin cam ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất dai trực tuyến dcủa Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Đất đai năm 2013

Nghị định 43/2014/NĐ-CP

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, về vấn đê tranh chấp quyền sử dụng đất:

Tại Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai 2013 có quy định như sau:

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ."

 Trong trường hợp này của bạn, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình.

Tuy nhiên, do quyền sử dụng đất đã được cấp cho ngươi chị của bạn, vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị bạn để khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trái pháp luật, hoặc bạn có thể gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có mảnh đất của bạn.

Thứ hai, về vấn đề có được xác nhận là 100% đất ở hay không?

Tại Điều 11 Luật Đất đai 2013 có quy định như sau:

" Điều 11. Căn cứ để xác định loại đất

Việc xác định loại đất theo một trong các căn cứ sau đây:

1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trước ngày 10 tháng 12 năm 2009; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

2. Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

3. Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa được cấp Giấy chứng nhận quy định tại khoản 1 Điều này;

4. Đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì việc xác định loại đất thực hiện theo quy định của Chính phủ."

Tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 3 Nghị định 43/2014/NĐ-CP có quy định như sau:

Điều 3. Xác định loại đất 
Việc xác định loại đất đối với trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 11 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây: 

1. Trường hợp đang sử dụng đất ổn định mà không phải do lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép thì loại đất được xác định theo hiện trạng đang sử dụng. 

3. Trường hợp thửa đất đang sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau (không phải là đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất) thì việc xác định loại đất được thực hiện theo quy định sau đây: 

a) Trường hợp xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích sử dụng thì tách thửa đất theo từng mục đích và xác định mục đích theo hiện trạng sử dụng của từng thửa đất đó; 

b) Trường hợp không xác định được ranh giới sử dụng giữa các mục đích thì mục đích sử dụng đất chính được xác định theo loại đất hiện trạng có mức giá cao nhất trong bảng giá do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quy định; trường hợp sử dụng đất sau khi có quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất để xác định mục đích chính. "

Trong trường hợp của anh, để xác định có phải là 100% đất ở hay không, cơ quan có thẩm quyền cần phải căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất của anh để đưa ra quyết định.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê