Là của Ông Vũ Duy L và Bà Trần Thị Tr, để lại cho Ông Vũ Duy T.do không nhu cầu ở quê, gia đình lên Hà Nội sinh sống nên để lại cho 3 anh em bà Nhớn: V. D. B, V. D. C, V.d. S cũng nhau vượt và mở rộng mảnh đất, xây nhà sinh sống và hình thành 3 mảnh đất riêng như hiện giờ. Lúc đó, ông Vũ Duy S có yêu cầu 2 vợ chồng em tôi trả tiền công vượt đất mới cho xây nhà, mẹ đẻ tôi cho mượn một triệu đồng mang vào trả vợ chồng ông Sơn. Thửa đât được thể hiện trên bản đồ địa chính xã như sau: -Năm 1966: Bản đồ thửa 60 không có sổ mục kê,không thể hiện tên chủ là ai -Năm 1978 Thể hiện trên bản đồ số 06 là số thửa 60 có diện tích 115m2,là loại đất thổ canh, đứng tên bà Nguyễn Thị Xâm- mẹ chồng bà Lê Thị Nh -Năm 1985 Thể hiện trên bản đồ số 01, mục kê số thửa 12 có diện tích 129m2 là loại đất ở tên chủ Nguyễn Thị Ch-em chồng bà Ch, đóng thuế tới năm 1990.

-Ngày 05/02/1996 Ông S và Bà Nh có viết giấy chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Th người cùng thôn có ghi rất rõ tứ cận giáp :phía đông cạnh ông Sơn+ Nhung giáp Ong V D B(câm) là chồng Bà Nh ,phía Tây giáp đất nhà Ông Vũ Duy Ch, phía Nam giáp máng 10, phía Bắc giáp đường 75 hiện nay gọi là đường 428. Rõ ràng tự tay ông S và Bà nh đã thừa nhận đất và nhà của Bà Nh đang ở hiện nay là đất và nhà của anh trai mình là Ông Vũ Duy B(câm) là hợp pháp.Trong giấy tờ hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu đất ngày 05/02/1996 .Bà Nguyễn Thị Ch- là vợ ông Vũ Duy C, đứng tên và đóng thuế đất của thửa đất bản đồ số 01 trong mục kê là số thửa 12 đã chứng nhận và xác nhận chiều rộng theo mặt đường 428 .Theo thứ tự,ông S và Bà Nh có 84m,Ông B và Bà Nhớn có 76m Ông C và Bà Ch có 103m

-Vào ngày 23/01/1999, khi nhà nước mở rộng đường QL428 thì gia đình bà Nhớn mất đất và nhận được tiền bồi thường ( có giấy đền bù của Xã).

-Ngày 25/05/2002 Tại Thôn có khảo sát xác định danh giới tại thực địa bản đồ số 09, gia đình em tôi-Bà Nh đi vắng,không có ai ở nhà, cho nên ông Lê Văn T là anh ruột bà Nh, là trưởng thôn lúc đó đã cố tình kê khai số thửa đất 153 lấy tên bà Nh mà chưa có sự đồng ý của bà Nh,cũng không có chữ kí của ủy ban địa chính xã, là giấy tờ sai pháp luật.

- Ngày 28/05/2007 Bà Nh có xác nhận là hộ nghèo được miễn thuế đất và có xác nhận của chúng quyền địa phương và UBND xã xác nhận. Ngày 22/12/2012 Gia đình bà Nh đã kê khai đã làm thủ tục nộp thuế đất có xác định của cơ quan thuế huyện Ứng Hòa ngày 04/12/2012 mã số thuế 37924/TB-CCT, vì gia đình bà Nh là hộ nghèo được miễn giảm thuế đất.

- Ngày 17/01/2013 để giải quyết hòa giải trong hai gia đình có đầy đủ các quý ban của xã, có mặt đầy đủ.Theo như trong hội đồng hòa giải của ủy ban xã phân tích rõ ràng là bà Nh không có chứng cứ giấy tờ gì phân tích là đất của nhà mình. nhưng tòa bác bỏ hết ý kiến của tôi và tôi thua kiện.

Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật đất đai năm 2013.

2. Nội dung tư vấn:

Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2014) cho phép người sử dụng đất được để lại thừa kế quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời thửa đất đó cũng phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Về điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi không có giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại luật đất đai 2013 như sau:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Theo quy định trên, phải đáp ứng các điều kiện trên mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì việc kê khai thửa đất 153 của ông T khi chưa được sự đồng ý của bà Nh và chính quyền xã thì việc xác lập trên là không có căn cứ.

Việc bác yêu cầu của bạn là không có cơ sở.

Trong trường hợp không đồng ý với kết luận giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm, bạn có quyền khiếu nại để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của BLTTDS.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê