1. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất vườn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Thưa luật sư, Nhờ luật sư tư vấn giúp em việc như sau gia đinh em và nhà hàng xóm có xảy ra tranh chấp đất vườn. Cả hai bên đều không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh giới giữa đất hai nhà được xác định theo bờ rào cũ đã có từ lâu. Do con gái nhà hàng xóm làm nhà nên làm hư hai môt phần bờ rào, hiện chỉ còn lại một phần.

Gần đây gia đình em căn cứ hàng rào cũ để xây tường rao, tuy nhiên gia đình hàng xóm liên tục ra ngăn cản, tháo dỡ. Cho e hỏi việc tự ý tháo dỡ tường rào nhà em làm như vậy có sai quy định không.

Thứ hai là, chính quyền địa phương sẽ căn cứ vào gì để giải quyết tranh chấp đất giữa hai nha. Hiện tại ranh giới đất hai nhà còn một số căn cứ như: một phần bờ rào cũ vẫn còn, hai mép đất bên cao, bên thấp dọc theo hàng rào, có một bụi tre của nhà hàng xóm nằm ngay ranh giới ( tất cả các bụi tre khác của nhà hàng xóm đều nằm tại ranh giới với các gia đình khác). Những yếu tố đó có thể làm căn cứ để giải quyết ko ?

Nhờ luật sư tư vấn giải quyết giúp. Cảm ơn luật sư.

Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất vườn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về đất vườn, gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình, căn cứ Luật đất đai năm 2013 (Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật đất đai năm 2013):

Bạn đã đưa ra thông tin về việc cả hai gia đình nhà bạn và gia đình nhà hàng xóm đều chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bất kỳ giấy tờ gì liên quan như giấy tờ mua bán, tài liệu liên quan khác. Mà hai gia đình vẫn sử dụng theo hiện trạng từ ban đầu, hiện nay hàng rào đã bị tháo dỡ một phần và còn các mô đất và các hoa màu mà hai bên đã trồng. Hiện tại để cơ quan có thẩm quyền giải quyết được vấn đề tranh chấp của hai gia đình bạn thì phải xem ai cung cấp được chứng cứ xác thực về việc sử dụng ổn định lâu dai tương ứng với phần diện tích của gia đình nhà mình. Để bảo vệ quyền lợi của gia đình nhà mình thì bạn phải cung cấp được các chứng cứ, tài liệu sau:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;
c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;
d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;
đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;
e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;
g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;
h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;
i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;
k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

Đương nhiên nếu bạn có một trong các giấy tờ trên có căn cứ xác định được diện tích đất của gia đình bạn các thông tin của gia đình bạn sử dụng ổn định lâu dài trên đất, nộp thuế đất qua các năm tương ứng với diện tích bao nhiêu theo tờ bản đồ số bao nhiêu được lưu giữ bên phòng địa chính và các cơ quan liên quan còn lưu giữ hồ sơ sẽ là cơ sở để giải quyết tranh chấp của bạn. Hiện bạn đang nói rằng bờ rào là của gia đình bạn, nhưng cũng cần có cơ sở chứng minh đó là hàng rào nhà bạn, bạn nói của bạn họ nhận của họ, thì việc giải quyết không chỉ dựa trên lời nói của hai bên là có thể xác minh được. Còn nếu thực sự bờ rào là của gia đình bạn thì không ai có quyền thao dỡ trừ gia đình bạn và người được gia đình bạn cho phép, hàng xóm của bạn mà tự ý phá dỡ hàng rào của bạn thì họ đang thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ của hành vi và giá trị tài sản, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại tài sản của người khác. Bạn hoàn toàn có quyền trình báo cơ quan công an về hành vi vi phạm để yêu cầu xử lý về hành vi đó.

Nếu như hai bên gia đình không thể tự giải quyết được vấn đề tranh chấp về đất đai này thì gia đình bạn có thể gửi đơn lên ủy ban nhân dân cấp xã để bên ủy ban căn cứ vào quá trình sử dụng đất, sơ đồ quản lý đất để xác nhận về quá trình giải quyết sử dụng của hai bên tương ứng với phần diện tích của mình, nếu vẫn không đảm bảo quyền lợi dựa trên việc hòa giải ở ủy ban nhân dân bạn sẽ gửi đơn lên tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để giải quyết.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung: Tư vấn giải quyết việc tranh chấp đất lâm nghiệp bị lấn chiếm đã hòa giải nhiều lần không thành ?

2. Nhờ luật sư tư vấn về tranh chấp đất nông nghiệp ?

Em chào luật sư, em có trường hợp như sau, mong luật sư tư vấn giúp em ạ- năm 1996 ba e có mua một miếng đất ruộng trồng lúa, có giấy mua đất chỉ có ký nhận giữa ông a và ba e, trên giấy mua đất năm đó có ghi là: ba e thuộc quyền sở hữu đến khi hết kỳ hạn 20 năm ba e trả lại, ( vì hồi đó trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông a có thời hạn là 20 năm nên hết kỳ hạn 20 năm nhà nước thu hồi thì ba e sẽ trả lại cho nhà nước). Hiện nay chủ củ đòi lại đất vì hết thời hạn mua đất, miếng đất này ba e đã được cấp giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất năm 2012 và chủ cũ cũng còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( vì theo thời điểm bên e mua đất thì miếng đất này và 2 miếng đất khác cùng đứng trong 1 giấy chứng nhận quyền sở hữu đất của ông a đang cầm cố tại ngân hàng) trên giấy mua đất ba e có ghi chú thêm bằng mực xanh là: Kể từ đây tôi sử dụng đến khi nhà nước thu hồi lại, ( nhưng không có ý nghĩa vì ba e tự ghi thêm vào).
- Hiện giờ ông a đòi lại đất vì hết hạn nhưng ba e nói chỉ trả lại cho nhà nước khi nhà nước thu hồi nên xảy ra tranh chấp và ủy ban xã giải quyết là bắt buộc ba e phải trả lại đất cho ông vì ưu tiên cho giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất của ông a và họ nói nếu ba e ko trả lại thì họ cũng sẽ thu hồi lại đất và tiếp tục gia hạn thời gian sừ dụng đất cho ông a.
- Kết quả là trong cuộc hòa giải ba e đã chấp nhận là trả lại đất và thuê lại đất của ông a, có ký biên bản thuê đất. Nhưng hiện tại thì xã vẫn chưa thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ba e, ( kết quả này là do lúc đó ba e nghe rằng ủy ban xã sẽ thu hồi lại đất vì đã hết hạn và trả cho ông a) nhưng giờ e được biết rằng gia hạn đất sử dụng khi hết thời hạn là cho ba e chứ không phải cho ông a, và có sự thay đổi là thời gian sử dụng đất là 50 năm. Và câu nói trên giấy mua đất của ba e sẽ trả lại khi hết kỳ hạn 20 năm không xác định là trả lại cho ông a nên bên e đang chuẩn bị làm đơn khiếu nại về kết quả hòa giải vào ngày 22/12/2016 với ủy ban xã để ủy ban xã giải quyết lại, đảm bảo quyền lợi cho ba e.
Vậy luật sư cho e hỏi là diễn biến sự việc như trên là ba e hay ông a đúng, ủy ban xã giải quyết như vậy là đúng chưa, (nếu xã giải quyết đúng thì xã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ba e có ý nghĩa gì không,cấp sai có phải do lỗi của ủy ban xã không. ) và ba e có được làm đơn khiếu nại về kết quả hòa giải như trên nữa không. ( vì trước đó ba e đã đồng ý hòa giải theo ủy ban xã). Người được gia hạn thời gian sử dụng đất là ba e hay ông a. Căn cứ vào những điều luật nào để e làm đơn khiếu nại nếu xã giải quyết sai ạ ?
- Võ Thị Mỹ Trang

3. Tranh chấp đất ruộng giữa những người thân ?

Thưa luật sư, 3 hộ gia đình gồm: bố em, chú 1, chú 2 có sử dụng chung số diện tích đất ruộng ở 5 thửa ruộng khác nhau, tổng là chia theo 12 khẩu. Bố 7 khẩu, chú 1 là 3 khẩu, chú thứ 2 là 2 khẩu. Chú thứ 1 đã tách sổ riêng, chú thứ 2 vẫn còn 2 khẩu trong sổ bố em. Trong sổ đỏ quyền sử dụng đất chỉ có tên bố em, vừa rồi bị thu hồi 1 thửa ruộng mà bố em sử dụng và được đền bù đất ở, chú e thì làm ở thửa ruộng khác. Vậy chú của em có đựoc quyền gì ở đó không ạ ?
Xin luật sư tư vấn giúp em.
- Dương Thị Tuyết Nhung

4. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất do ông, bà để lại ?

Kính thưa Luật sư!. Trước hết cho em xin lỗi vì đã làm phiền luật sư em có một số thắc mắc về luật đất đai luật sư có thể giúp e được không. Cụ thể là:

Quê em đang làm cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới nên gia đình em cũng làm lại nhưng các cán bộ đo đạc đất đai lại không giải quyết cho gia đình em vì lý do là có một mảnh đất bên cạnh là của bà nội em giờ bà mất và anh em có mâu thuẫn mà em lại nghe nói luật mới để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới lại phải có sự đồng thuận của những người sống xung quanh về phần đất của bà nội em hiện tại không có ai được quyền sinh sống và phần đất của gia đình em đã có giấy chứng nhận cũ mọi người hàng xóm xung quanh đều nhất trí duy chỉ có mảnh đất bà em là chưa được sự đồng thuận của anh em. Vậy nếu như bây giờ gia đình em muốn cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới thì phải làm như thế nào mong luật sư giúp đỡ em.

Em xin trân thành cảm ơn!.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Điều kiện được cấp GCN quyền sử dụng đất ?

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp được Nhà nước cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, cụ thể như sau:

Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

....................

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

....................

g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Theo quy định pháp luật đất đai hiện hành, nếu mảnh đất do bà để lại mà không để lại thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng... cho ai mà các anh chị em có quyền liên quan (đượ hưởng di sản của bà) đang có tranh chấp, mâu thuẫn mà chưa giải quyết được thì đất đó sẽ không đủ điều kiện để được cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

2. Hướng giải quyết trường hợp này?

Theo như thông tin bạn cung cấp, tức mảnh đất của bà nội bạn để lại không để lại di chúc trước khi mất nên các anh chị em (con bà) có mẫu thuẩn, tranh chấp nhau. Do đó, nếu các anh chị em không thỏa thuận được việc phân chia mảnh đất đó thì phải yêu cầu tòa án chia tài sản thừa kế theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005.

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, bây giờ gia đình bạn muốn được cấp GCN QSDĐ về mảnh đất của bà nhưng do chưa được phân chia rõ ràng giữa các anh chị em (con của bà) nên gia đình bạn phải làm đơn yêu cầu tòa án phân chia di sản thừa kế theo quy định trên. Sau khi có quyết định của tòa án về phân chia đó thì gia đình bạn mới có căn cứ để cấp GCN QSDĐ theo quy định trên và thẩm quyền cấp thuộc Ủy ban nhân dân Quận/huyện bạn cư trú.

Điều 105. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Phần đất và phần không gian trên phần lối đi chung được quy định như thế nào trong xây dựng?

5. Hướng dẫn cách giải quyết tranh chấp đất ?

Luật Minh Khuê tư vấn, hướng dẫn cách giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành:
Trả lời:
Thưa luật sư, xin hỏi: 2 gia đình tranh chấp một mảnh đất không có giấy chứng nhận QSDD , bên khai phá trước đã thông bao bên kia thu hoa mẩu để trả lại đất ,nhưng không được đáp ứng cho nên tự ý nhổ hoa mầu . cách giải quyết
Kính gửi luật sư.Gia đình e có 1 Mảnh đất đồi rộng 250 m2 đã khai thác và sử dụng gần 20 năm qua và cho đến hiện tại mảnh đất đó nhà em trồng cây Mỡ. Tuy nhiên do sự tác trách của địa chính xã nên mảnh đất đó chưa có bìa đỏ. Hiện tại nhà hàng xóm bên cạnh nhà em đột nhiên tranh chấp với gia đình em mảnh đất đồi đó với lý do gia đình em chưa có bìa đỏ nên họ có quyền chiếm. Luật sư tư vấn giúp em trường hợp này họ có quyền tranh đất hay không? Và gia đình em phải làm thế nào? Gửi từ thiết bị Samsung của tôi
Chào Công ty Luật Minh Khuê! Tôi có một vấn đề muốn được công ty tư vấn như sau: Công ty Tôi có thuê người giữ chức vụ Tổng Giám Đốc(TGĐ), sau đó, ông Chủ tịch có chỉ đạo bằng miệng cho TGĐ mua 02 thửa đất, ông TGĐ đã rút tiền từ nhưng trong Ủy nhiệm chi không nói rõ là mua đất và sau khi mua xong ông TGĐ tự ý đứng tên, khi Công ty yêu cầu chuyển tên thì ông TGĐ không đồng ý. Công ty chúng tôi đã khởi kiện, tôi muốn hỏi việc chỉ đạo bằng miệng, có tất cả nhân viên công ty biết, có được Tòa án chấp nhận không và đây có phải là tranh chấp về quyền sử dụng đất hay đòi tài sản. Rất mong được sự tư vấn của Qúy Công ty trong thời gian sớm nhất. Trân trọng cám ơn.

Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Nếu các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Nếu không hòa giải được nữa thì có thể gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất. Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Kính chào luật sư nhà em mua đất và làm nhà được 20 năm rồi và đất nhà kế bên là chủ nhà thứ 3 mua lại mảnh đất, chủ đất đầu tiên bán lại cho chủ thứ 2 đã xây hàng rào và nhà rồi và ở được 3 năm bán lại cho chủ thứ 3 khi chủ thứ 3 mua được 6 tháng nên đo đất thấy thiếu nên làm đơn ra tòa kiện là thiếu 32m vuông là đất nhà máy của em đang sử dụng là đất của ông bà. Nhà em và nhà bên đã ra tòa 2 lần và ko hòa giải thành công. Ra tòa có chủ đất thứ 1 và chủ thứ 2 cũng làm chứng là chỉ có đất bao nhiêu đó. Khi nhà em mua săt thép và tôn về nhà làm mái che chỗ ô đất nhà em đã sử dụng và đang tranh chấp thì họ kêu ko được làm. Luật sư có thể cho em biêta phải làm thế nào ạ. Em cám ơn

Về nguyên tắc, đất đang có tranh chấp về quyền sử dụng đất, chưa được giải quyết dứt điểm bằng một bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì chưa có căn cứ để xác định chủ sử dụng đất là ai. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai (đã có sổ đỏ) thuộc về tòa án quận/huyện nơi có đất sau khi các bên đã thông qua hòa giải ở UBND xã, phường. Gia đình bạn chỉ có thể được xây dựng sau khi giải quyết xong tranh chấp này.

Kính mong vp luật sư tư vấn. Năm 1995 gđ tôi được sự cho phép của ông bà nội bố tôi chuyển nhà về đất riêng của ông bà nội ở, bố tôi đã xây nhà trên đất ở, năm 1995 bà nội mất, năm 1998 ông nội tôi mất, sau nay cả phần lớn đất mang tên chú út. Năm 2008 bố tôi già yếu nên đã nói chú sang tên cho bố phần đất của ông bà cho nay là nơi thờ cúng ông bà, bố tôi đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nam 2010 bố tôi mất còn mẹ tôi, trong giấy đăng ký quyền sử dụng đất mang tên bố , mẹ. Nay có 1 chú khác về đòi chia đất vậy theo luật sư thể chia được k?

Theo như bạn trình bày, bố bạn là chủ sử dụng hợp pháp của mảnh đất này. Khi bố bạn mất, một nửa mảnh đất đó sẽ là di sản của bố bạn để lại và được chia cho các người thừa kế (vợ và các con) và không bao gồm chú bạn nên chú bạn không có quyền đòi chia tài sản.

Kính gởi luật sư: Nguyên là năm 2003. Tôi có đưa tiền cho con trai tôi mua mảnh đất và cất nhà cho con trai tôi ở. Con trai tôi đứng tên từ đó đến nay. Giờ tôi có quyền đòi lại không cho con trai tôi đứng tên nữa được không. Có cần sự đồng ý của con trai tôi không. Nếu nó không đồng ý. Tôi phải làm gì. Mong luật sư tư vấn giúp. Xin chân thành cảm ơn!

Trong trường hợp này, con trai bạn đã đứng tên trên sổ đỏ, do đó, con trai bạn là người chủ sử dụng hợp pháp mảnh đất này nên bạn không có quyền đòi lại mảnh đất đó.

>> Tham khảo thêm: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai về tự ý tháo dỡ phần mái nhà của hàng xóm khi xây dựng ?

6. Tư vấn cách giải quyết khi xảy ra tranh chấp đất ?

Kính chào văn phòng Luật sư. Tôi muốn nhờ văn phòng Luật sư tư vấn giúp tôi về một việc sau: tháng 11/2017 tôi có mua một mảnh đất ở của ông A. Hai bên đã làm các thủ tục mua bán dưới sự chứng kiến của địa chính xã và một số người khác trong đó có cả công an xã. Khi gia đình ông A bàn giao lại đất cho gia đình tôi có nhờ địa chính xã lên cắm mốc.

Sau đó gia đình tôi đã rào lại mảnh đất mua của ông A để sử dụng. Nhưng ông B ( ông B là người trước đây đã bán đất cho ông A) không cho nhà tôi làm vì bảo làm sang đất nhà ông B. Ông B nói khi bán đất cho ông A là bán 8m chiều ngang, trên dưới bằng nhau còn lại là của ông B. Nhưng ông A nói với nhà tôi là mua chạy thẳng ra sau và trong bìa đất cũng là chạy thẳng như ông A nói. Còn về phía nhà ông B, trong bìa đất nhà ông chỉ có 5m chiều ngang chạy thẳng. Khi địa chính xã đo mảnh đất nhà ông B đang sử dụng là 5m4( thừa ra 40cm chiều ngang mặt đường).

Khi xã hỏi đến giấy tờ mua bán giữa hai ông A và B thì nhà ông A không đưa ra được giấy tờ gì ngoài bìa đất mà trong bìa đất nhà ông B thì chỉ có 5m chiều ngang chạy dài. Bìa đất của nhà ông A được tách ra từ bìa ban đầu của nhà ông B từ năm 2012, suốt thời gian đó ông B không hề kiến nghị gì về mảnh đất của ông đã đúng với bìa đỏ hay chưa. Nhưng nay khi ông A bán lại cho nhà tôi, gia đình tôi làm thì ông B thường xuyên sang chửi bới và bảo cướp đất nhà ông ý vì bảo chỗ đất đó nằm trong bìa đất cũ (từ ngày chưa bán đất). Giờ tôi phải làm như thế nào kính mong Luật sư giúp tôi. Giờ đất nhà tôi mua có được sử dụng theo bìa đỏ không tại sao ông B cứ khăn khăng chỗ đất đó của nhà ông theo sổ bìa đỏ cũ. Trong khi bìa mới nhà ông B sau khi đã bán đi một số lần đất cho người khác thì không có phần đất đó, mà nó ở cuối mảnh vườn đất nhà tôi vừa mua ?

Mong Luật sư tư vấn giúp !

Tôi xin chân thành cảm ơn Luật sư !

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

Trong trường hợp này của bạn đã thực hiện xong thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất với B tức là bạn phải đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại điều 188 Luật đất đai năm 2013 (Nghị định 43/2014/NĐ-CP):

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với ý nghĩa là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của bạn người có quyền sử dụng đất và việc tiến hành đo đac thực tế cũng là căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất của bạn có xác thực và ăn khớp với nhau không.

Trong trường hợp có tranh chấp như đối với trường hợp của bạn thì việc hòa giải sẽ được ưu tiên thực hiện trước tiên, bạn có thể lựa chọn Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp:

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Điều 88. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

1. Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;

b) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

c) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

2. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

3. Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.

4. Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 202 Luật Đất đai.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Điều 89. Thủ giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh

1. Người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai nộp đơn tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao trách nhiệm cơ quan tham mưu giải quyết.

3. Cơ quan tham mưu có nhiệm vụ thẩm tra, xác minh vụ việc, tổ chức hòa giải giữa các bên tranh chấp, tổ chức cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai (nếu cần thiết) và hoàn chỉnh hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp ban hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai. Hồ sơ giải quyết tranh chấp đất đai bao gồm:

a) Đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai;

b) Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã; biên bản làm việc với các bên tranh chấp và người có liên quan; biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp; biên bản cuộc họp các ban, ngành có liên quan để tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp hòa giải không thành; biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp;

c) Trích lục bản đồ, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ liên quan đến diện tích đất tranh chấp và các tài liệu làm chứng cứ, chứng minh trong quá trình giải quyết tranh chấp;

d) Báo cáo đề xuất và dự thảo quyết định giải quyết tranh chấp hoặc dự thảo quyết định công nhận hòa giải thành.

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê