1. Hướng dẫn quy trình giải quyết tranh chấp đất đai ?

Thưa luật sư, Tôi xin được luật sư tư vấn 1 vấn đề như sau : Gia đình tôi có tranh chấp đất thổ cư. Đã được tòa án nhân dân tp Hà Nội giải quyết. Diện tích đất của gia đình tôi có thay đổi và sổ đỏ của gia đình tôi cũng bị hủy. Nay tôi muốn xin cấp lại sổ đỏ mới theo quyết định của tòa án thì phải cần những giấy tờ gì, thủ tục cụ thể như thế nào?
Xin đươc luật sư tư vấn. Tôi xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn! Với những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau

- Điều 99 Luật đất đai năm 2013 quy định các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

“Điều 99. Trường hợp sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1. Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
a) Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100, 101 và 102 của Luật này;
b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành;
c) Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
d) Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
đ) Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
e) Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;
g) Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
h) Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
i) Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử dụng đất hiện có;
k) Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Do đó, bạn thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 99 Luật đất đai năm 2013.

- Hồ sơ cần nộp khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau được quy định tại Khoản 5 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường : Quy định về hồ sơ địa chính như sau:

“Điều 9. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất

5. Hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký biến động quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong các trường hợp giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; xử lý nợ hợp đồng thế chấp, góp vốn; kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để thi hành án; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức, chuyển đổi công ty; thỏa thuận hợp nhất hoặc phân chia quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình, của vợ và chồng, của nhóm người sử dụng đất, bao gồm:
a) Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo Mẫu số 09/ĐK;
b) Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Một trong các loại giấy tờ gồm: Biên bản hòa giải thành (trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi ranh giới thửa đất thì có thêm quyết định công nhận của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền) hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai theo quy định của pháp luật; văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng thế chấp, góp vốn có nội dung thỏa thuận về xử lý tài sản thế chấp, góp vốn và văn bản bàn giao tài sản thế chấp, góp vốn theo thỏa thuận; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành có nội dung xác định người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; văn bản kết quả đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo yêu cầu của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản hoặc yêu cầu của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án đã được thi hành; hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận phân chia hoặc hợp nhất hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của tổ chức trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức, chuyển đổi công ty; hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận phân chia hoặc hợp nhất quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình hoặc của vợ và chồng hoặc của nhóm người sử dụng đất chung, nhóm chủ sở hữu chung tài sản gắn liền với đất;
d) Trường hợp phân chia hoặc hợp nhất quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của tổ chức phải có văn bản chia, tách, hợp nhất, sáp nhập tổ chức theo quy định của pháp luật; trường hợp phân chia hoặc hợp nhất quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải có sổ hộ khẩu kèm theo; trường hợp phân chia hoặc hợp nhất quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ và chồng phải có sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận kết hôn hoặc ly hôn kèm theo.”

Do vậy, bạn sẽ nộp Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm các giấy tờ nêu trên đến Văn phòng đăng ký đất đai hoặc nộp thông qua UBND cấp xã nơi có đất để làm thủ tục cấp.

Thưa luật sư, Tôi đang tranh chấp nhà và đất với bà A. Trong quá trình tòa đang thụ lý vụ án của tôi, bà A đem chuyển nhượng hợp đồng công chứng cho bà B. Vậy hợp đồng chuyển nhượng của bà A bán cho bà B có được tòa án xem xét hay không khi bà B không yêu cầu? Mong quý luật sư giải đáp giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai quy định về Điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính."

Như vậy, các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013 là các điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do vậy, khi đất đang có tranh chấp mà bà A không thực hiện được việc chuyển nhượng cho bà B.

Thưa luật sư, Hỏi về thừa kế bố tôi 7 người con, hai đời vợ. tôi là con thứ bảy mẹ tôi với bố tôi không có hôn thú, trong khai sinh có ghi tôi là con của bố. bố tôi có để lại di chúc(có công chứng) cho tôi thừa kế 1 mảnh đất. nhưng mảnh đất này mua giấy tờ tay. tôi chưa đủ 18 tuổi. bây giờ 6 anh chị (là con của vợ trước) xuống tranh chấp đất, giấy tờ mua bán tay anh chị ấy giữ.bố tôi bây giờ không con minh mẫn nữa(chưa mất).Mong luật sư cho tôi hỏi vậy họ có quyền gì hay không có được lấy đất không. (mẹ tôi và tôi có hộ khẩu ở mảnh đất đó)

"Điều 667. Hiệu lực pháp luật của di chúc

1. Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.

2. Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật.

3. Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật.

5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật."

Do vậy, di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế (sau khi bố bạn mất). Đây là điều kiện tiên quyết để di chúc của bố bạn có hiệu lực. Do vậy, hiện tại bố bạn vẫn còn sống nên dù di chúc có hợp pháp thì các anh chị em của bạn cũng không có quyền yêu cầu chia tài sản.

Chào luật sư, Tôi xin được tư vấn về tranh chấp đất: Tôi có mua 1 miếng đất: 80 m2 từ 1 ông chủ có 140m2 đất. Lúc trước ông ấy cất 1 căn nhà (72m2) và 3 căn nhà trọ (68m2 ; thực tế giấy đỏ của chủ kia có 60m2) 1 căn nhà nằm trong 80 m2 tôi mới mua 3 căn kia ông ấy bán chủ khác, 8m2 còn lại bị 3 căn nhà trọ kia cất lên, giờ tôi muốn đòi lại phần diện tích đó thì tôi phải làm sao? Xin cảm ơn!

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Như vậy, khi có tranh chấp đất đai, bạn sẽ có yêu cầu đến UBND cấp xã hòa giải. Sau khi UBND xã hòa giải không thành thì được giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai: Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại UBND cấp huyện.

Mọi vấn đề thắc mắc quý khách hàng có thể liên hệ với chúng tôi qua tổng đài 1900.6162 để được tư vấn pháp luật trực tiếp.

>> Tham khảo ngay: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai và quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án ?

2. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai khi cho người thân mượn sổ đỏ để cắm ngân hàng ?

Chào luật sư, nhà tôi có một mảnh đất và có cho một người họ hàng ( con của chị gái gọi mẹ tôi bằng gì , gọi tắt là h ) có mượn mẹ tôi một mảnh đất để cắm ngân hàng , nay anh h không giả được và bị ngân hàng thu hồi và phát mại nhưng chưa có một tờ giấy văn bản hay có người của bên ngân hàng đến nhà tôi để làm việc, chị l em gái anh h tự động ra ngân hàng để chuộc về và giữ mảnh đất đấy không chịu giả mẹ tôi và ép mẹ tôi phải bán mẹ tôi là một người bần nông không hiểu biết về pháp luật nên cứ để vậy , sau một thời gian nhà tôi lâm vào hoàn cảnh khó khăn nhà chúng tôi phải bán mảnh đất đấy cho chị l nhưng nhà chị l chỉ có giả cho nhà tôi 40. 000. 000tr đồng mảnh đất trị giá 80. 000. 000tr , và một giấy tờ mua bán viết tay chỉ có 3 người làm chứng mẹ tôi chỉ nhận 40,000,000 khi nào giả nốt thì mẹ tôi sẽ sang tên đổi chủ.
Nay mẹ tôi đi sang bên nước ngoài làm việc , tiện thể nhân cơ hội mảnh đất nhà tôi hiện được di dời theo chính sách tái định cư nhà ,nhà chị l có vu khống đặt lời lẽ sai trái về việc nhà tôi bán mảnh đất cho nhà chị l để chị ta không cần phải giả số tiền đó còn lại mà khi nhà tôi bán cho nhà chị l là vào năm 2016, tôi có viết đơn yêu cầu bên ủy ban nhân dân phường giải quyết và khi đến giải quyết bên phía ủy ban bảo với tôi rằng tôi không có sự ủy quyền của mẹ tôi không có trách nhiệm trong việc này , và tôi yêu cầu gọi mẹ tôi để đối chứng nhưng phía bên phường không cho phép tôi.
Tôi có nêu rõ về luật đất đai về giấy tờ không được công chứng công nhận bởi các cơ quan chức năng được ủy quyền và phía bên ủy ban trả lời tôi rằng về mặt pháp luật là sai còn về mặt dân sự là đúng vì giờ họ không cho tôi diễn giải là tại sao mảnh đất này là nó như thế này , và gần như trong buổi họp đó tôi là người bất lợi và chị ta có những chứng cứ mà không có sự thật , đặt điều giả dối , và sau cuộc họp vừa rồi bên phía ủy ban phường vẫn cấp đất cho nhà chị ta.
Vậy tôi muốn hỏi luật sư giờ tôi có thể nộp đơn ra tòa để giải quyết tranh chấp đất đai này không và tôi muốn tuyên hệ nộp đơn vô hiệu mảnh đất này chúng tôi sẽ hoàn giả lại số tiền ?
Cảm ơn luật sư.
- Phạm Anh Vũ

3. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai liên quan đến di chúc một cách đúng luật và hợp về tình ?

Thưa luật sư, xin hỏi: tôi có ông chú lấy thím 1 có 5 người con , sau khi thím 1 mất vì bệnh chú tôi có lấy thím 2. Chú thím có đổi một số đất ở thổ đang ở cho xã để lấy một miếng đất khác và chuyển về đó sinh sống , chú với thím 2 có 2 người con gái khi đứa lớn được 9 tuổi , đứa bé được 5 tuổi thì chú tôi qua đời , trước khiqua đời chú có viêt bản di chúc trong đó ghi rõ toàn bộ phần đất chú thím 2 đang ở sẽ được chuyển giao cho cháu đích tôn ( cháu của thím 1 ) thím 2 và hai đứa nhỏ không được gì ( bản di chúc không có chứng thực của ubnd xã. Không có chữ ký của người làm chứng ).
Năm 1997 thím 2 tôi làm sổ đỏ toàn bộ mảnh đất đó mang tên thím 2 và có ý phân chia miếng đất đó cho hai cô con gái của thím , cháu đích tôn không được gì. Hiện hai bên đang tranh chấp. Luật sư cho tôi được hỏi theo pháp luận hiện hành thì miếng đất đó phân chia thế nào cho đúng luật và hợp về tình ?
Xin cảm ơn luật sư.
- Trần Phong

4. Tư vấn và hướng dẫn giải quyến vấn đề tranh chấp đất đai ?

Thưa luật sư, Gia đình tôi đả làm biên bản phân chia đất có công chứng cách đây 3 năm, nhưng bây giờ do có tranh chấp của các người có tên trong biên bản phân chia.

Bây giờ gia đình tôi muốn viết đơn gửi mà không biết gửi lên tòa án hay gửi lên ủy ban ở địa phương và cách làm đơn như thế nào xin được hướng dẩn.

Xin cảm ơn ạ!

Vấn đề tranh chấp đất đai

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi 1900.6162

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Về vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Luật đất đai 2013 quy định tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Trường hợp tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Click để tham khảo: Mẫu đơn đề nghị/yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai

Trân trọng!

>> Tham khảo ngay: Tư vấn về tranh chấp đất đai cho mượn đất có đòi lại được không?

5. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai với hàng xóm ?

Thưa luật sư, Nhà em có mảnh đất từ ông bà để lại, gần đây có sự tranh chấp với nhà bên cạnh.Em cần phải làm như thế nào ạ. Nếu viết đơn thì viết như thế nào ạ ?
Mong anh/chị tư vấn giúp Em với ạ. Em xin chân thành cảm ơn anh chị!

Trả lời:

Điều 203 Luật đất đai năm 2013: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Như vậy, trước hết bạn viết đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến UBND xã nơi có đất. Sau đó, bạn có thể yêu cầu UBND cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc gửi đơn đến Tòa án giải quyết tùy thuộc vào bạn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có giấy tờ quy định tại điều 100 Luật đất đai không.

>> Về biểu mẫu bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn đề nghị/yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn tranh chấp đất đai: Mua bán nhà đất bằng giấy tờ viết tay?

6. Hướng dẫn giải quyết khi tranh chấp đất đai ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi cần được giải đáp: Vào tháng 9/2003 Bà L.T.Đ– mẹ ruột của tôi có để lại cho tôi hai thửa đất thuộc tờ bản đồ số:6 bao gồm thửa 962, đất ruộng với diện tích là 2341 m2 và thửa 846 đất thổ cư với diện tích 2093 m2, trong đó thửa 846 đất thổ hình chữ ‘L’ đang bị ông Nguyễn Văn S ngang nhiên chiếm sử dụng phần đuôi của chữ ‘L’ với diện tích là 800m2

Vào tháng 4/2007 Ông S đào phần đất thổ thửa 846 của tôi mà đấp nền cho con trai thứ 2. Không những vậy còn cất nhà lấn và nằm trên đất của tôi, mặc cho gia đình tôi ngăn cản. Bên cạnh đó ông ta còn đào sâu hơn để thả cá, nuôi vịt, xả thải nước bẩn sinh hoạt, phân bò. Đến 11/2014 ông S lại kêu đào ao rộng hơn để lấy đất đấp nền cho con trai thứ 5. Quá bức xúc nên tôi gửi đơn hòa giải lên ấp vào chiều ngày 8/5/2016 tại nhà của ông M - trưởng ấp, nhưng không thành. Sau đó hòa giải lúc 8h sáng 19/7/2016 tại UBND Xã L – cũng không thành,nhưng có lẽ nhận thấy hành vi của mình là sai nên ông S về tháo dở chuồng bò, chuồng vịt trên đất tôi lúc 14h thứ bảy ngày 23/07/2016, nhưng nhà sau của con ông S vẫn còn nằm trên đất của tôi, tôi yêu cầu tháo dở nhưng ông S không đồng ý. Vào ngày 27/7/2016 tôi có gửi đơn Khởi Kiện Lên Tòa Án Nhân Dân Tp Tân An – Long An yêu cầu ông S trả lại phần đất 800m2 thuộc thửa 846, tờ bản đồ số 6, được cấp giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất vào ngày 20 tháng 09 năm 2003. Nay con tôi đã 20 tuổi rồi, tôi đã ủy quyền cho con trai tôi là Đ. Tôi đang rất buồn rầu và lo lắng không biết phải đối mặt với những câu hỏi của tòa án : "Tại sao đất của mình mà để cho người khác sử dụng trong 13 năm như vậy?

Thật tình là nhà tôi chỉ có 3 người, ai cũng ốm yếu luôn bị họ đe dọa , chửi bới, lấn chiếm sử dụng đất của tôi. Nên sự việc mới xảy ra như vậy. Cho tôi xin hỏi trường hợp của tôi như vậy tôi có được quyền đòi bồi thường chi phí mà họ đã sử dụng đất của tôi trong 13 năm qua không ạ?

Trân trọng cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn Luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau.

Phần đất thổ cư thuộc sở hữu hợp pháp của anh được mẹ anh để lại theo đúng theo quy định pháp luật và đã dược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương thì cá nhân, tổ chức khác phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của chủ sở hữu với đất đai của mình.

Luật Đất đai 2013 quy định về những hành vi bị cấm như sau:

Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.
2. Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố.
3. Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích.
4. Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất.
5. Nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.
6. Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
7. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
8. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về quản lý đất đai.
9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.
10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Vậy,theo sự kiện xảy ra thì hộ gia đình của ông Nguyễn Văn S đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 về hành vi lấn, chiếm đất đai.

Với hành vi lấn, chiếm đất này sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:

Điều 10. Lấn, chiếm đất

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở.

4. Hành vi lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình thì hình thức và mức xử phạt thực hiện theo quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở; trong lĩnh vực về giao thông đường bộ và đường sắt; trong lĩnh vực về văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; trong lĩnh vực về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão và trong các lĩnh vực chuyên ngành khác.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này".

Trong trường hợp tranh chấp này gia đình anh tiến hành giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải. Nếu hòa giải không thành thì tiến hành khởi kiện ra tòa án theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự 2005.

Điều 204. Hòa giải tranh chấp đất đai.
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Điều 205. Giải quyết tố cáo về đất đai.
1. Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.
2. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 206. Xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
1. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại.

Như vậy, ông S đã vi phạm quy định của pháp luật đất đai về lấn chiếm đất của người khác. Do đó, ông S buộc phải trả đất lấn, chiếm của gia đình anh và bồi thường cho gia đình anh theo quy định của pháp luật

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê