Năm 2013 khi giải phóng mặt bằng quốc lộ 1A thì kiểm tra giấy CNQSDĐ thì phát hiện ra trên giấy chứng nhận sai số thửa so với thực tế, có 24 m2 đất ở nằm trong hành lang an toàn giao thông. Do trước đây nhà nước cấp sai chứ chúng tôi là dân làm sao chúng tôi biết được số lô số thửa. Hiện tại nhà chúng tôi ở rất nguy hiểm không đảm bảo an toàn, chúng tôi đã có đơn gửi lên huyện đề nghị cho chúng tôi tái định cư nhưng UBND huyện trả lời hiện tại không có kinh phí giải phóng mặt bằng. Nên UBND huyện sẽ cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ gia đình. Với 26 m2 đất ở và 24 m2 đất ở nằm trong hành lang an toàn giao thông. Vậy cho tôi hỏi UBND huyện DC cấp lại như thế có đúng không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập bởi chuyên mục tư vấn luật đất đai công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn xử lý trường hợp sai thông tin trên sổ đỏ, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Xin chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được trả lời bạn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai năm 2013

2. Nội dung trả lời:

* Về vấn đề thông tin trên sổ đỏ không chính xác, thì việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng. Khoản 1 Điều 106 Luật đất đai quy định:

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

Do có sai sót thông tin về thửa đất nên UBND có trách nhiệm đính chính thông tin trên sổ đỏ cho gia đình bạn.

* Về việc giải toả mặt bằng, Khoản 1 Điều 75 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

Khoản 2 Điều 83 Luật đất đai 2013 quy định về tái định cư như sau: "c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;"

Như vậy, gia đình bạn hoàn toàn có quyền được bồi thường phần đất thuộc hành lang giao thông. Còn về vấn đề hỗ trợ tái định cư thì nếu việc thu hồi đất ở của gia đình bạn mà phải di chuyển chỗ ở thì gia đình bạn sẽ được hỗ trợ tái định cư. Trường hợp gia đình bạn tự lo chỗ ở thì sẽ được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê