Đến năm 1986 ông An cho HTX mượn để thả cá tập thể, khi cho mượn không có giấy tờ gì, khi HTX không tồn tại thì ông An không đòi hỏi trả lại. Đến năm 1996 UBND xã đo vẽ bản đồ để xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai lần đầu cho các hộ dân trong xã thì thửa đất này ghi tên người sử dụng là HTX, khi xét duyệt gia đình ông A cũng không đòi hỏi gì về thửa ao này. Từ khi cho HTX mượn ao đến nay, gia đình ông A không có ý kiến gì về thửa đất nói trên và hiện nay ông A không có giấy tờ gì để chứng minh tài sản của mình là thửa ao. Đến tháng 9/2014 ông A có đơn gửi UBND xã đòi lại thửa đất nói trên. Vậy để giải quyết nội dung nói trên, tôi mong Luật sư tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: H.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật đất đaicủa Công ty luật Minh Khuê.

Không giấy tờ gì có đòi lại được đất ao ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến gọi1900.6162

Trả lời:

 

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

 

Căn cứ pháp lý

Luật đất đai 2013

Nghị định 43/2014/NĐ-CP  Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai

Nội dụng phân tích

Đây là diện tích đất mà ông A đã cho HTX mượn nhưng lại không có các giấy tờ chứng minh được rằng ông A đã cho hợp tác xã mượn đất. Theo quy định của pháp luật dân sự thì những trường hợp mà cho mượn tài sản thì chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản đã cho mượn. 

Để ông A có thể đòi lại được tài sản từ UBND cấp xã thì gia đình ông A sẽ có nghĩa vụ chứng minh rằng đây là tài sản thuộc sở hữu của mình và cho HTX mượn từ thời điểm nào, nếu không có giấy tờ thì ông A cần đưa ra được người làm chứng, mặt khác, ông phải tìm được giấy tờ chứng minh rằng trước đây mình đã từng được xác nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất ao này và đã có kê khai trong sổ mục kê của UBND xã. 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định sổ mục kê được lập trước ngày 18/12/1980 cũng được coi là một trong những loại giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013. Ngoài ra một số giấy tờ liên quan đến việc thực hiện chỉ thị 299 xác lập trước ngày 10/11/1980 cũng được coi là giấy tờ hợp lệ. Cụ thể,

"Điều 18. Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai

Các giấy tờ khác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai có tên người sử dụng đất, bao gồm:

1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980.

2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý, bao gồm:

a) Biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã xác định người đang sử dụng đất là hợp pháp;

b) Bản tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Hội đồng đăng ký ruộng đất cấp xã hoặc cơ quan quản lý đất đai cấp huyện, cấp tỉnh lập;

c) Đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này"

Nếu chứng minh được tất cả các vấn đề trên thì ông A có cơ hội để yêu cầu UBND cấp xã giải quyết tại cơ sở, nếu không được thì khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì trường hợp này của ông A là cho HTX mượn đất chứ không phải là góp vốn vào HTX nên ông A vẫn được quyền đòi lại đất đối với diện tích đất mà mình đã cho mượn.

Nếu giấy tờ được xác lập các thời điểm nêu tại điều 18 nghị định 43/2014/NĐ-CPP nêu trên, nhưng chứng minh được việc cho mượn thì ông A cũng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Căn cứ vào quy định tại  khoản 2 điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp này :

"Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự";

Căn cứ vào quy định này do bạn không nêu cụ thể là trong lần xét duyệt năm 1996 đó thì HTX này đã được cấp giấy chứng nhận hay chưa. Nếu như HTX đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi thì ông A có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất đang tranh chấp giải quyết. Nếu như HTX vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông A chỉ được chọn một trong hai nơi là UBND cấp huyện hoặc tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất đang tranh chấp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về đất đai và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT ĐẤT ĐAI