Vào năm 2012 chúng tôi đã ra tòa hòa giải nhiều lần nhưng không thành công. Đến năm 2015 thì bà mất nhưng mọi chuyện vẫn chưa đâu vào đâu. Các anh tôi lại tiếp tục khởi kiện và đòi đuổi mẹ con tôi ra với 2 bàn tay trắng. Các anh lập ra một bản di chúc (theo tôi được biết là không hợp lệ) với nội dung là chia mảnh đất ra làm 4 chia cho chồng tôi một phần còn mẹ con tôi thì không có phần, cùng với đó là nội dung đòi lấy 165tr của mẹ chồng tôi nợ khi bà 88 tuổi từ phần đất của gia đình tôi. Vậy xin hỏi luật sư là nếu mẹ con tôi khởi kiện thì cò thể giữ được nguyên vẹn phần đất không?? nếu bị chia thì sẽ chia như thế nào?? Và tạo các chứng cớ giả thì có tội không và sẽ bị giải quyết ra sao? 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai công ty Luật Minh Khuê.

Làm giả di chúc nhằm chiếm đoạt tài sản?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cư vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005 

Nội dung tư vấn:

Mảnh đất mẹ bạn dự định cho chồng bạn vẫn do bà đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên mảnh đất vẫn thuộc quyền sử dụng của bà, mặc dù bà dự định cho chồng bạn nhưng bà cũng không hề thành lập hợp đồng tặng cho, nên về nguyên tắc sau khi mẹ chồng bạn chết mảnh đất sẽ trở thành di sản thừa kế, vì mẹ bạn không hề để lại di chúc nên mảnh đất sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định về trường hợp thừa kế theo pháp luật. 

Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo đó mảnh đất trên của mẹ bạn sẽ được chia đều cho 4 người con của mẹ bạn. Tuy nhiên các anh của bạn đã có hành vi làm giả di chúc nên theo quy định họ sẽ không có quyền hưởng di sản thừa kế của mẹ bạn nữa:Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:…

"d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”.

Theo đó chồng bạn là người duy nhất còn lại có quyền được hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên mảnh đất sẽ được coi là tài sản riêng của chồng bạn chứ không phải là tài sản chung của hai vợ chồng bạn. Trường hợp này vì chồng bạn mắc bệnh tâm thần nên trước hết bạn phải yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố chồng bạn bị mất năng lực hành vi dân sự dựa trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Khi đã có quyết định của Tòa án tuyên bố chồng bạn bị mất năng lực hành vi dân sự, thì trong trường hợp này bạn sẽ là người giám hộ đương nhiên cho chồng bạn theo quy định tại Điều 62 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 62. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

1. Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2. Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.

3. Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ."

Điều 67 Bộ luật dân sự quy định về nghĩa của người giám hộ đối với người mất năng lực hành vi dân sự như sau:

"Điều 67. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự

Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:

1. Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;

2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;

3. Quản lý tài sản của người được giám hộ;

4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ."

Như vậy bạn sẽ có nghĩa vụ đại diện cho chồng bạn thực hiện việc khai nhận di sản thừa kế, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng cho chồng bạn, và bạn có nghĩa vụ quản lý mảnh đất đó cho chồng mình. 

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ.