1. Làm giấy ủy quyền giải quyết tranh chấp đất đai như thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi có một mảnh ruộng bị người khác tranh chấp tôi lại không am hiểu pháp luật, không biết tiếng kinh, tai nặng không nghe được, cơ quan có giấy triệu tập tôi đi giải quyết nhưn tôi không nghe được, không biết tiếng kinh vậy tôi ủy quyền cho con gái tôi thì nội dung giấy ủy quyền viết như thế nào ?
Mong luật sư tư vấn giúp. xin cảm ơn

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 202 Luật đất đai năm 2013 quy định về việc hòa giải tranh chấp đất đai như sau:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Như vậy, tranh chấp đất đai mà các bên không giải quyết được thì yêu cầu UBND cấp xã hòa giải tranh chấp. Trong trường hợp này, bạn không trực tiếp đến trụ sở UBND để hòa giải được do gặp vấn đề về tai, không biết tiếng Kinh và không am hiểu pháp luật nên bạn có thể ủy quyền cho người khác đi giải quyết tranh chấp thay bạn. Tuy nhiên, việc ủy quyền phải được lập thành văn bản và phải được công chứng tại phòng công chứng, văn phòng công chứng hoặc chứng thực tại UBND xã (phường). Và do bạn không biết tiếng Kinh nên nếu lạp bằng tiếng Kinh thì cần có người làm chứng và lập rồi đọc trước người làm chứng và công chứng viên hoặc cán bộ chứng thực để đảm bảo khách quan và trung thực của giấy ủy quyền.

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu giấy ủy quyền giữa cá nhân với cá nhân

2. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai khi đất được nhà nước cấp cho hộ gia đình ?

Kính chào luật minh khuê, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: vụ việc có liên quan đến mảnh đất mà hiện nay gia đình tôi đang sinh sống, ba tôi sinh sống gần 70 năm nay. Mảnh đất này có một phần là đất thổ cư (đất ở lâu dài). Nguồn gốc mảnh đất gia đình tôi đang ở hiện nay trước đây của ông bà mua và xây nhà. Ông bà tôi sinh hạ được 7 người con gồm 04 gái, 03 trai. - ông bà tôi mua thêm 2 căn nhà nữa cho 2 người con trai, trong đó ba tôi là trưởng nam mà ba tôi không có con trai, lúc bà tôi mua nhà xong ba tôi có ý định không ở trong nhà thờ mà muốn dọn đi ra nhà bà tôi mua, để chú có con trai thì ở trong nhà thờ này, lúc đó chú tôi không chịu ở trong nhà thờ mà dọn đi ra nhà bà tôi mới mua. - vậy nhà bà tôi có 3 người con trai bà tôi đã cho đủ 3 người con, mà hiện giờ ba tôi đã ở trong nhà thờ này gân 70 năm, nay chú tôi lại quay vô tranh chấp nhà với lý do ba tôi không có con trai. - lúc ông bà mất không có để lại di chúc cho ai, chỉ còn sống thì mua cho mỗi người con 1 căn nhà, các người chú ông bà cũng đã mua nhà cho ở.
Ai cũng có phần. - mà hiện gio chú tôi lại vô tranh chấp nhà với gia đình tôi, với lý dô nhà thờ mà ba lại không có con trai. Cha mẹ tôi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với nhà nước đối với mảnh đất này. Gia đình tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha tôi làm chủ hộ (do chính quyền địa phương đo đạc và cấp đồng loạt cho các hộ gia đình). Mình nghỉ ông bà đã cho mỗi người mỗi phần thì không phân biệt nhà thờ hay không, gia đình tôi thấy đây là một điều phi lý, là mỗi gia đình ông bà đều cho nhà hết, tại sao giờ lấy lý do nhà thờ không có con trai vô tranh chấp, còn nhà của chú ông bà cho thì như thế nào, vậy xin hỏi luật sư cách chia của họ theo luật đất đai 2013 có đúng không.
Quan điểm của tôi là đất cấp cho hộ gia đình (trước đây chưa được nhà nước công nhận) mà cha tôi là chủ hộ thì chỉ các thành viên sinh sống thực tế tại mảnh đất này mới có quyền quản lý và sử dụng. Xin luật sư cho biết cách chia theo pháp luật trong trường hợp tranh chấp khởi kiện tòa án sẽ như thế nào ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
- Nguyễn Thị Ngọc Hà

3. Tư vấn tranh chấp đất đai giữa các hàng thừa kế trong gia đình ?

Năm 1995, ông nội em mất. Trước đó 1 năm có tặng cho cho bố em 1 thửa đấtcó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Cùng thơi gian đó, cô em dờivề phần đất mà bố em đang sở hửu (cô phía dưới, bố ở phía trên). Lúc đó giađình cứ nghĩ cô ở nhờ và sau này sẽ trả lại. Nhưng đến năm 2013, cô của emlàm giấy khiếu nại ra ubnd huyện và huyện yêu cầu bố em phải tách thửa racho cô em. Bố em không đồng ý và sau đó khiếu nại lần đầu, sau đó khiếu nạitrực tiếp với bí thư tỉnh ủy và được bí thư ra công văn yêu cầu huyện hỗtrợ, di dời nhà cô em và trả lại phần đất cho gia đình em. Mãi đến năm 2018mà gia đình em chưa có quyết định từ cơ quan có thẩm quyền.
Em xin hỏitrường hợp của gia đình em thì cơ quan nào giải quyết. Và cô của em có buộcphải trả lại phần đất cho gia đình em không ?
Em cám ơn.
- Nguyen Truong Thai

4. Giải quyết tranh chấp đất đai phải gửi đơn đến đâu ?

Thưa luật sư, xin hỏi: tôi có mua một thửa đất có nhà cấp 4 gắn liền với đất của một chị A ( thửa đất này chị A đang cho chị B thuê mở kinh doanh quán cà phê) ngaqyf đặt cọc tôi có đề nghị chị A phải thanh lý hợp đồng thuê nhà với chị B, trong quá trình mua tôi và chị A đã làm các thủ tục sang tên đổi chủ ( tuy nhiên chị A vẫn chưa thanh lý hợp đồng cho thuê nhà với chị B) đến tháng 11/2016 tôi được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy CNQSD đất mang tên tôi;

Tôi yêu cầu chị A thanh lý hợp đồng với chị B, tuy nhiên trong quá trình thanh lý hợp đồng chị A đồng ý bồi thường cho chị B như trong hợp đồng đã thỏa thuận thì chị B không đồng ý và có ý kéo dài dây dưa; đến ngày 20/11/2016 thì bản thanh lý hợp đồng giữa chị A và chị B được thống nhất thực hiện ( trong bản hợp đồng thanh lý có ghi rõ chị a thanh toán đầy đủ số tiền bồi thường cho chị B và chị B phải trả lại cho chị A đất , nhà và tài sản gắn liến với đất mà không có tranh chấp) ; chị B có nhu cấp thuê nhà tiếp và nhờ chị A liên lạc với tôi để cho Chi B tiếp tục được thuê nhà 02 năm tôi đồng ý nhưng với giá cả cao hơn chị B không đồng ý và có ý định không chịu giao nhà cho tôi. Vây trong lúc này chị B có trách nhiệm giao nhà cho tôi hay giao nhà cho chị A vì hợp đồng thuê nhà đã được thanh lý và giấy CNQSD đất đã mang tên tôi; lúc này chị A đã hết trách nhiệm với các bên ( tôi , chị B) chưa hay chị A phải có trách nhiệm lấy lại căn nhà và giao chìa khóa cho tôi hay tôi phải tự giải quyết với chị B. Nếu chị B không giao nhà cho tôi thì tôi có quyền gửi đơn đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh mà nơi tôi có thửa đất hay tôi gửi đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân nơi tôi có thửa đất này ?

Xin cảm ơn luật sư!

Giải quyết tranh chấp đất đai phải gửi đơn đến đâu ?

Trả lời:

Thứ nhất, theo như bạn trình bày, đến ngày 20/11/2016 thì hợp đồng thanh lý giữa chị A và chị B được thống nhất thực hiện (trong bản hợp đồng thanh lý có ghi rõ chị A thanh toán đầy đủ số tiền bồi thường cho chị B và chị B phải trả lại cho chị A đất, nhà và tài sản gắn liến với đất mà không có tranh chấp), như vậy là chị A đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình nhưng chị B chưa giao nhà lại cho chị A thì chưa được coi là đã thực hiện xong hợp đồng, bởi lẽ chị A là người đứng tên cho chị B thuê để kinh doanh chứ không phải là bạn. Thêm nữa, CNQSD đất đã mang tên của bạn, như vậy chị A và chị B sẽ có trách nhiệm trả lại đất cho bạn.

Thứ hai, về vấn đề giải quyết tranh chấp nhà đất của bạn chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau :

- Thủ tục hòa giải đất đai:

Đầu tiên, dù theo trình tự tố tụng tại Tòa án hay trình tự giải quyết tại cơ quan hành chính thì thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn vẫn là bắt buộc. Tuy nhiên, Luật đất đai năm 2013 còn có quy định khuyến khích các bên tranh chấp tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất Đai năm 2013 và khoản 1 Điều 88 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều của luật đất đai ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất Đai năm 2013, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình.

Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác để trình UBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục tố tụng:

Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung tại Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền (Bạn lưu ý là tòa án nơi có nhà đất của bạn đang tranh chấp).

Người khởi kiện: gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến Tòa án nơi có bất động sản tranh chấp, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án. Khi Tòa án đã thụ lý sẽ tiến hành hòa giải cho các bên đương sự. Đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai.

- Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc.

- Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Ngay trong quá trình xét xử, các đương sự vẫn có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu không đồng ý các bên vẫn có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

- Giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính:

Trình tự này sẽ được áp dụng đối với những tranh chấp mà các đương sự không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất theo quy định và lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND. Đối với tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì khiếu nại đến chủ thể có thẩm quyền giải quyết là Chủ tịch UBND cấp huyện. Nếu một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Đối với tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với nhau hoặc giữa các đối tượng đó với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thì các đương sự này có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh. Nếu một trong các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu này thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường để yêu cầu giải quyết.

Cuối cùng, chúng tôi muốn nói rằng: Câu chuyện sẽ không phức tạp nếu bạn biết cách soạn thảo đơn khởi kiện, đơn khiếu nại, đơn đề nghị trong các thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai. Việc tranh chấp sẽ không mất thời gian nếu bạn biết phương thức thu thập chứng chứ, giấy tờ xác minh nguồn gốc đất, chứng mình vi phạm và nội dung tranh chấp đất đai. Để rút ngắn thời gian giải quyết, để nắm được quyền và lợi ích của mình trong vụ án tranh chấp, bạn có thể nghĩ đến việc tìm đến chúng tôi, các luật gia, luật sư giỏi và uy tín của Luật Minh Khuê có thể thay mặt bạn giải quyết các vấn đề tranh chấp của mình.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162 - Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung: Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi một bên vắng mặt ?

5. Tranh chấp đất đai trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số đất thừa so với hợp đồng và bán cho người khác xây nhà. Trách nhiệm bồi thường và xử lý như nào?
Cụ thể: Năm 2006, gia đình em có bán một thửa đất 61,5m2 cho một cô hàng xóm. Sau đó, đến năm 2011 người này có làm bản cam kết là với số diện tích đất thừa (9,7m2) sẽ trả tiền cho nhà em và nếu bán thì có trách nhiệm với nhà em để người này được làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Sau đó người này làm được cấp GCNQSDĐ với diện tích đất trên 71,2m2. Khi có sổ chị này bán số đất trên cho anh X. Gia đình em thấy vậy nên đã đi kiện để anh X không làm được nhà (do chị hàng xóm chưa trả tiền theo thỏa thuận với gia đình em về số đất thừa). Nhưng anh X đã viết cam kết với gia đình em là sau khi làm xong nhà sẽ giải quyết số đất thừa với gia đình em và người bán đất cho anh X. Nhưng cho đến nay, gia đình anh X và chị hàng xóm vẫn chưa trả gia đình em số tiền tương ứng diện tích đất thừa.
Theo em biết, anh X đã có GCNQSDĐ với diện tích đất 71,2m2. Gia đình em xin luật sư tư vấn với nội dung trên gia đình em phải làm gì để được bồi thường số đất trên? Chị hàng xóm và anh X có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt với số đất thừa kia không? Em sẽ gửi đơn đến cơ quan nào để được giải quyết ạ?
Mong luật sư tư vấn cho gia đình em cách giải quyết!

Hướng dẫn thủ tục và quy trình giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai mới ?

Trả lời:

Trong trường hợp này cần xem xét giá trị bản cam kết trả tiền cho số đất thừa giữa gia đình chị với chị hàng xóm có giá trị như nào? Vì bản chất thỏa thuận này cũng chính là thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 9,7m2. Mà theo quy định tại Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất: "Việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định của Luật đất đai."

Trong trường hợp bản cam kết này không được công chứng, đăng kí tại Văn phòng đăng kí đất đai thuộc UBND cấp xã thì sẽ không có giá trị pháp lý, do đó việc chị hàng xóm xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cả phần đất thừa là sai quy định pháp luật. Và theo điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định trường hợp Nhà nước thu hồi GCNQSDĐ:

"Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai."

Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.

TRong trường hợp này, gia đình bạn có thể gửi đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đến UBND cấp xã nhờ giải quyết, trường hợp hòa giải không thành có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện yêu cầu giải quyết tranh chấp liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ trái thẩm quyền đối với phần đất thừa 9,7m2 đó, Khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

"Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai..."

Còn đối với thắc mắc của bạn về việc chị hàng xóm và anh X có thể bị khởi kiện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy đinh tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi,bổ sung năm 2009) quy định:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó. Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản, dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản. Về mặt chủ quan, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác. Chủ thể là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp này, việc lập bản cam kết giữa gia đình chị với chị hàng xóm và anh X không có thủ đoạn lừa dối mà các bên hoàn toàn tự nguyện làm cam kết và cam kết không có giá trị pháp lý vì các bên không tuân thủ hình thức pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý và không thể kiện về tội lừ đảo chiếm đoạt tài sản.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn về tranh chấp đất đai cho mượn đất có đòi lại được không?

6. Hướng dẫn thủ tục và quy trình giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai mới ?

Luật Minh Khuê tư vấn, hướng dẫn và giải đáp thủ tục và quy trình giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành:

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chứng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Xin chào luật sư! Mong luật sư tư vấn cho em trường hợp sau: Ông bà ngoại em có 3 người con. Mẹ em là con giữa, hiện đứng tên sổ đỏ, thực hiện đóng thuế đất đai trong suốt những năm qua. Ông bà đã mất hơn mười năm và không để lại di chúc. Người con cả (chị của mẹ) có vấn đề về thần kinh, hiện còn tên trong sổ hộ khẩu nhà em, nhưng sống cùng chồng và con của dì. Người con út (em của mẹ) hiện đã có chồng con ở nơi khác. Ông bà để lại 3 mảnh ruộng và 1 đất vườn. có 1 mảnh ruộng đã bán cách nay khoảng 4 tháng. Nay dì cả muốn chia ruộng đất. Vậy xin hỏi luật sư nếu không chia có được hay không? và nếu chia thì chia như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 645 Luật dân sự năm 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015) thì: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế..."

Vì ông bà ngoại bạn đã mất hơn 10 năm nên hiện nay đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế, ai đang trực tiếp quản lý sử dụng di sản thừa kế thì sẽ tiếp tục quản lý sử dụng, những người thừa kế khác không còn quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế.

Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn thì:

- Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

- Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Như vậy, để có thể phân chia di sản thừa kế này thì cần phải có sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc các thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Khi đó, di sản này sẽ được chuyển thành tài sản chung của các thừa kế và được giải quyết như quy định nêu trên.

Tranh chấp đất đai chưa có sổ đỏ đã được chủ tịch UBND phường giải quyết và được cả 2 bên,bên a và bên b cùng đồng ý ký vào biên bản thực hiện,trong văn bản chủ tịch UBND phường có ghi ( bên a giao cho bên b 50m2 và có lối đi chung,thời hạn thi hành trong vòng 20 ngày bên a phải giao đất cho bên b và từ nay về sau không bên nào được kiện lại bên nào ) khi thi hành bên a đã thực hiện đúng như chỉ đạo của chủ tịch UBND phường nhưng bên b không đồng ý nhận 50m2 . Và Thời hạn thi hành đến nay đã quá hạn 5 năm.Cho tôi hỏi chủ tịch UBND phường giải quyết hòa giải vậy đã gọi là thành công chưa? Nếu thành công mà bây giờ bên a không giao đất nữa vì đã quá hạn thi hành và cách giải quyết của chủ tịch UBND phường bên a thấy áp dụng luật chưa đúng.nếu vậy bên a có bị cưỡng chế thi hành không?bây giờ bên a phải làm thế nào? Và bên a muốn giải quyết nhanh chóng vì để nâu bên a chịu rất nhiều thiệt thòi cũng như thiệt hại về tinh thần và kinh tế thì cần làm những thủ tục gì để được giải quyết? Gửi tới những đâu? Và thời hạn trả lời của các cấp có thẩm quyền là bao nhiêu ngày? Xin trân thành cảm ơn công ty luật!

Theo quy định của pháp luật đất đai thì tranh chấp đất đai bắt buộc phải được giải quyết thông qua hòa giải và sau đó nếu hòa giải không được thực hiện thì theo yêu cầu của bên bị vi pham sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế yêu cầu bên kia thực hiện đúng như theo thỏa thuận

Điều 202 Hòa giải tranh chấp

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

Điều 203 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

> NHư vậy theo quy định trên nếu biên bản hòa giải được lập và có chữ ký của hai bên thì biên bản hòa giải này đã thành và buộc hai bên phải thực hiện nếu không thực hiện sẽ bị cưỡng chế theo quy định của pháp luật.

Em xin chào luật sư! Hiện tại em có tranh chấp đất với một người là ông A. Và được Tòa Án Nhân Dân huyện xét xử rồi ra bản án. Nhưng em đồng ý, do phần đất là của gia đình em khai phá năm 1986 và sử dụng liên tục cho đến nay, mà ông A lại nói là đất của ông A(do ông A có quyết định của tỉnh là công nhận quyền sở hữu diện tích là 4200 mét vuông, quyết định năm 2000 của UBND tỉnh. Vì thế ông được cấp quyền sử dụng đất). Nhưng quyết định có nhiều điểm sai sự thật. Trước khi sự việc tranh chấp đất đai vài ngày, gia đình có đi làm giấy quyền sử dụng đất là 4.200 mét vuông, có cán bộ địa chính xã và trưởng ban nhân dân ký tên xác nhận cho gia đình em để đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng đến lúc gia đình em tranh chấp với ông A, thì cán bộ địa chính xã lại làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông A. Do thấy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng, nên UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện thu hồi giấy sử dụng đất. Gia đình em có khiếu nại lên tòa án nhân dân tỉnh, nhưng gia đình em không đồng ý. Gia đình em khiếu nại lên tòa án cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng bây giờ, Thi hành án huyện yêu cầu gia đình em phải thực hiện bản án của tòa án nhân dan huyện. Hiện tại gia đình em đang gửi lên tòa án cấp cao trên TPHCM. Vậy gia đình em phải làm sao? Em cam on ạ!

THeo quy định của Luật dất đai nếu gia đình nhà bạn đã canh tác từ năm 1986 và nay được ủy bạn nhân dân cấp xã xác nhận là đất ổn định không tranh chấp thì sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

> Và theo quy định tại Điều 202,203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án và trước đó phải thông qua hòa giải. Nếu bạn không đồng ý với bản án cấp sơ thẩm của tòa giải quyết thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có bản án bạn làm đơn phúc thẩm bản án theo quy định của BLTTDS

Điều 273 Thời hạn kháng cáo

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

NHƯ vậy trong trường hợp này nếu bạn gửi đơn phúc thẩm thì bạn cần phải đợi quyết định của tòa án. nên nếu bạn đang đợi bản án của tòa mà cơ quan thi hành án ra thông báo thi hành án như vậy thì bạn có quyền khiếu nại.

Kính thưa luật sư Minh Khuê, hiện tôi đang có vướng một vấn đề liên quan đến tranh chấp đất đai. Vậy tôi gửi email này, nhờ luật sư tư vấn giúp -Câu hỏi: Hiện gia đình tôi có một thửa đất trồng cây hàng năm mà ông bà để lại và chia đều cho các con cháu sử dụng. năm 1995 chị tôi có xây nhà ở trên lô đất này, tiếp đó năm 1998 đến gia đình chị kế tiếp xây dựng và đến năm 2009 thì gia định tôi cũng tiếp tục xây dựng nhà ở trên mảnh đất này. Từ thời gian mà ông bà và bố tôi sử dụng và canh tác lô đất này và khi chết đi thì gia đình tại cũng tiếp tực canh tác và ở trên lô đất này mà không có sự tranh chấp. Vậy đến ngày hôm năm 20 tháng 6 năm 2016, khi được thông tin từ UBND phường Ninh Hải, thị xã Ninh Hoa, tỉnh Khánh Hòa có quyết đơn cho chuyển khu vực này làm khu vực dân cư và được đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất. thì gia đình tôi phát hiện lô đất mà ông bà và cha tôi để lại như trên thì nằm ở sổ đỏ nhà người khác. Vậy khi gia đình tôi có thương lượng và yêu cầu gia đình kia phải cắt từ lô đất bị nhằm qua cho gia đình tôi thì bên kia không châp nhận mà còn yêu cầu gia đình tôi phải tháo dở nhà mà giao lại đất cho họ. Vậy tôi xin hỏi Luật sư như thế có đúng không và cách giải quyết tranh chấp này như thế nào? cảm ơn Luật sư.

NHư vậy trong trường hợp này của gia đình nhà bạn nếu canh tác trên đất của người khác , người đó đã có quyền sử dung đất thì nay gia đình bạn mới biết và nếu quyền sử dụng đất đó là hợp pháp hợp lệ thì bạn phải trả lại diện tích đất đó cho họ theo quy định tại Điều 167 Luật đất đai năm 2013

Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.

Thoi gian cua toa an giai quyet tranh chap dat dai la bao lau. Toi co khởi kiện đất toi mua co sổ quyền sử dụng đất. Nay đơn toi gởi đuoc ba nam ruoi.va các thu tục của tòa an thu lý đầy đủ. Và đóng án phí rồi. Hồ sơ đầy đủ. Nhung chờ ra tòa nhưng tòa hẹn đến Nay chưa giải quyet . Bắt tôi chờ có đúng ko. Vay toi có dc ý kien nhu the nao. Xin cam on giup toi !của tôi.

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Điều 203 Thời han chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;

b) Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;

c) Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

d) Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;

đ) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;

e) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.

3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Như vậy theo quy định trên thì họ đã không giải quyết vụ việc của bạn đã ba năm rồi và không có thông báo gì như vậy thì ho đã sai bạn có quyền làm đơn khiếu nại trực tiếp đến tòa án.

Cho tôi hỏi là đất đã được đo đạc và đã có trên bản đồ địa chính(mang tên tôi) nhưng chưa có sổ đỏ thì mảnh đất này đã thuộc về tôi chưa.hiện giờ có người tranh chấp với tôi, hiện trạng mảnh đất đã được tôi làm ăn sinh sống gần 20 năm qua. Sent from my WIKO RIDGE FAB 4G

THeo quy định tại Điều 168 Luật đất đai năm 2013

Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

> Như vậy theo quy định trên nếu bạn có đầy đủ các giấy tờ cần thiết để được cấp sổ đỏ thì bạn đã hoàn toàn có quyền với mảnh đất đó rồi

thưa luật sư ,hiện tại ở địa phương tôi có 2 gia đình đang tranh chấp đất cụ thể là danh giới 2 gia đình cả hai lô đất đều đã có sổ chứng nhận quyền sử dụng đất ,được cấp mới năm 2011 song diện tích thực tế cả 2 số đều thiếu so với số được cấp năm 2004 .vậy khi sảy ra tranh chấp hộ ông a đã có đơn gửi ubnd song ubnd đã làm công tác hòa giải nhưng không thành hộ ông a đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác định lại diện tích đất ,và đòi lại diện tích đã được cấp năm 2004 vậy khi giải quyết thì sẽ xác đnh như thế nào và hộ ông a có phải mất hoàn toàn phí đo đạc không ?ngược lại hộ ông b có nghĩa vụ gì và trách nhiệm gì khi cơ quan có thanm quyền tiến hành giải quyết?

THeo quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật đất đai năm 2013

5. Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa số liệu đo đạc thực tế với số liệu ghi trên giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Giấy chứng nhận đã cấp mà ranh giới thửa đất đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề thì khi cấp hoặc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có.

Trường hợp đo đạc lại mà ranh giới thửa đất có thay đổi so với ranh giới thửa đất tại thời điểm có giấy tờ về quyền sử dụng đất và diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì phần diện tích chênh lệch nhiều hơn (nếu có) được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 99 của Luật này.

NHư vậy theo quy định trên thì nếu đo đạc lại diện tích thì diện tích đất được xác định theo số liệu đo đạc thực tế. Nếu ông A yêu cầu đo đạc lại thì ông A sẽ phải mất phí đo đạc theo quy định của pháp luật.. nếu cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thì gia đình ông B cũng phải có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp hoặc bạn có thể liên hệ với gmail :

công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê