Sau đó, tôi có thuê thợ lại xây ranh đất đúng phần đất của tôi ( dựa vào bằng khoán ) thì gia đình ông Thanh can ngăn không cho làm, còn chửi mắng, dọa nạt. Chính vì vậy, tôi viết đơn gửi lên tòa án huyện. Huyện ngâm hồ sơ quá lâu, cứ kêu lên hỏi nhiều lần mà không xử, tôi rút đơn thưa. Sau đó, bên ông Thanh viết đơn thưa lại bên tôi. Thời gian sau, toàn án mời lên xử. Lần đầu, không thành. Lần sau, tòa nói quyết định của ủy ban nhân dân huyện nói là hai phần đất này đo chồng, cho nên chia hai bên mỗi bên 1,5m. Tôi bức xúc, nếu đo chồng thì kéo ông địa chính ra đối chiếu và xử chứ sau lại xử như vậy, rong khi 3m đều là đất của tôi lại mất trắng 1,5m. Tôi làm đơn kháng cáo. Thưa luật sư, bằng khoán đất của tôi làm sau ông Thanh. Lúc trước, cha tôi sang miếng đất đó có làm giấy kí giáp ranh với các chủ đất khác, trong đó ông Thanh có kí nhận giáp ranh đàng hoàng, tôi còn giữ tới giờ. Vậy mà khi ra tòa ông Thanh nói, ngày xưa cha tôi đưa cho ông ấy tờ giấy trắng kêu kí tên vô, thật vô lí mà tòa án không nói gì. Tôi thấy thật bất công vì bị xử ép. Luật sư có thể giúp tôi được không ? Bên tôi có thể giành phần thắng không. Và ông địa chính xã và cả ông Thanh có bị xử phạt hành chính hay bị xử lí gì không ? Xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi:  1900 6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13

Nội dung phân tích: 

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì trước đó bố bạn đã cho ông Thanh mượn ranh giới đất để cất nhà tạm để bàn bida, đến năm 2003 khi ba bạn mất thì ông Thanh lại có nhu cầu chiếm luôn phần ranh giới đất đó. 

Ngoài ra, theo dữ liệu mà bạn đưa ra thì gia đình bạn đã có bằng khoán về quyền sử dụng ranh giới đất này do đó nếu như không thỏa thuận được về quyền sử dụng đất thuộc về ai, gia đình bạn có thể làm đơn yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết. Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Đối chiếu theo quy định pháp luật trên thì trước hết gia đình bạn phải gửi hồ sơ yêu cầu UBND xã hòa giải. Nếu UBND xã hòa giải mà không thành thì gia đình bạn có thể làm đơn yêu cầu cơ quan Tòa án xem xét và giải quyết. 

Nếu xác định diện tích đất của gia đình bạn bị hàng xóm lấn chiếm (dịch chuyển mốc giới so với mốc giới trước đây) thì hàng xóm phải trả lại đất cho gia đình bạn.

Nếu diện tích đất của gia đình bạn đang sử dụng bị thiếu do có sai sót trong việc xác định diện tích trong quá trình cấp giấy chứng nhận cho gia đình bạn thì UBND huyện sẽ điều chỉnh lại diện tích trong giấy chứng nhận.

Nếu gia đình bạn nhận thấy bản án Tòa án ra không đảm bảo quyền lợi của mình hay có vấn đề gì đó trái quy định pháp luật trong quá trình giải quyết, gia đình bạn có quyền làm đơn kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, cụ thể Điều 270, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 270. Tính chất của xét xử phúc thẩm

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.

Điều 271. Người có quyền kháng cáo

Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn pháp luật Đất đai.