Bây giờ nhà em đo lại đất từ Đông sang Tây chi còn 22m.Đường đất ngày xưa giáp Đông không còn nữa .Đến khi tranh châp đất xảy ra thì nhà bên đêm sổ đỏ mới làm năm 2013 ra.Trên sổ đỏ không có giáp đường đất rộng 3m mà giáp với nhà em luôn.Chữ ký giáp biên nhà bên cũng giả chữ ký nhà em luôn để làm sổ đỏ. Sự việc nhà em đã gửi lên UBNNTT nhưng 2 năm nay vẫn chưa giải quyết xong. không chịu giải quyết ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của công ty luật Minh Khuê.

Lấn chiếm đất trái pháp luật.

Luật sư tư vấn xử lý trường hợp lấn chiếm đất, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009

Bộ luật hình sự mới nhất năm 2015

Luật đất đai 2013

2. Nội dung tư vấn:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì trên sổ đỏ có ghi rõ phía Đông giáp đường đất rộng 3m, phía Tây giáp đường đất rộng 3m, khi làm ăn xa đến khi trở về thì nhà bên giáp hướng Đông đã lấy đi đường đất rộng 3m và lấn sang phần đất nhà bạn. Đường đất ngày xưa giáp Đông không còn nữa. Như vậy, nhà bên cạnh đã thực hiện việc lấn chiếm đất nhà bạn khi phần lấn chiếm đó đã thuộc quyền sở hữu của gia đình bạn. 

Tại Điều 12 Luật đất đai 2013 có quy định:

“Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm
1. Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai.
...
9. Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật.
10. Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.”
Bên cạnh hành vi lấn chiếm thì nhà bên cạnh còn giả mạo chữ ký của gia đình bạn để làm sổ đỏ. Hành vi này hoàn toàn vi phạm quy định của pháp luật. 

Hành vi giả mạo chữ ký của người khác là hành vi vi phạm pháp luật và tùy vào từng trường hợp cụ thể mà có thể bị xử lý vi phạm hành chính hay xử lý hình sự. Nếu đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chẳng hạn:  Hành vi giả mạo chữ ký của người khác để chiếm đoạt tài sản, tước quyền thừa kế của ngươì khác thì có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đối với một người có chức vụ, quyền hạn mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích trục lợi thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác,…

Đối với trường hợp của bạn, nhà bên cạnh mạo danh chữ ký của bạn để làm sổ đổ đất của nhà mình, nếu để nhằm mục đích chiếm đoạt mảnh đất đó thì có thể bị xử lý hình sự khi có căn cứ xác định hành vi cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng.

Theo quy định tại Điều 139, Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, thì:

“Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, nếu hành vi giả mạo chữ ký của nhà bên cạnh nhà bạn đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên tùy vào các yếu tố như động cơ, mục đích phạm tội. Còn nếu chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, mức tiền xử phạt vi phạm hành chính có thể từ 10.000.000 đến 50.000.000 đồng  phụ thuộc vào tính chất cũng như mức độ của hành vi vi phạm.

Tranh chấp về đất đai trước hết sẽ được giải quyết theo thủ tục hòa giải tại cơ sở, nếu việc hòa giải không thành thì tùy từng trường hợp theo pháp luật quy định, các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án, yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tranh chấp. Cụ thể:

Đối với thủ tục hòa giải ở cơ sở:

Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013, khi phát sinh tranh chấp nếu các bên không thỏa thuận được thì có quyền gửi khiếu nại tới Ủy ban nhân dân cấp xã để được hòa giải. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức hòa giải cho các bên. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Như vậy, khi nhận được khiếu nại của một trong các bên tranh chấp, việc Ủy ban nhân dân xã mời gia đình bạn lên để tiến hành giải quyết tranh chấp là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên Ủy ban nhân dân xã chỉ có thẩm quyền tiến hành hòa giải giữa các bên có tranh chấp. Trong trường hợp hòa giải không thành, Ủy ban nhân dân xã sẽ lập biên bản hòa giải không thành, biên bản này phải có chữ ký của các bên.

Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.

Khi tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã mà không thành thì sẽ được giải quyết như sau:

- Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì các bên có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.

- Đối với Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai thì các bên chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau, tại Ủy ban nhân dân cấp tỉnh  nếu một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc;

Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.


Như vậy, trong trường hợp của bạn, nếu việc hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã giữa gia đình bạn và các hộ liền kề không thành. Gia đình bạn có thể nộp đơn khởi kiện ra Tòa án cấp huyện nơi có bất động sản để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900 6162  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê