Năm 2012, gia đình ông Vũ đồng ý thi hành án miếng đất này để trả nợ cho bà Vui (lúc này các chủ nợ không có ông Trí). Vì là tài sản chung của vợ chồng, nên ông Vũ có 1 nửa miếng đất, 1 nửa còn lại để trả nợ.

Ông Vũ đã dùng tiền của mình để mua lại 1 nửa miếng đất, nên lúc này ông chủ tạm là chủ sở hữu của toàn bộ miếng đất. Thi hành án xong, ông Vũ và bà Vui ly hôn. Sau đó, bà Vui đi sang tên đất cho ông Vũ nhưng không được chấp nhận, vì lý do ông Trí gửi giấy ngăn chặn sang tên lên các cơ quan có thẩm quyền, và bắt đầu đòi nợ bà Vui tiếp. Năm 2014, cơ quan thi hành án ở TP. Thủ Dầu Một gửi ông Vũ quyết định thi hành án toàn bộ miếng đất bà Vui đứng tên, cũng chính là miếng đất mà ông Vũ đã có 1 nửa, và đã mua lại 1 nữa từ lần thi hành án trước. Ông Vũ có đầy đủ giấy tờ của lần thi hành án trước đó, chỉ là bà Vui không sang tên được cho ông Vũ, do ông Trí đã ngăn chặn. Ông Vũ cảm thấy rất oan ức chỗ này, 1 tài sản phải thi hành án đến 2 lần, và phần tài sản ông Vũ mua lại không được công nhận. Những người thi hành án nói việc ông Vũ mua lại tài sản của lần thi hành án trước là không có giá trị (mặc dù có đủ giấy tờ, người của cơ quan thi hành án, người trong phường chứng kiến), nên họ quyết tâm thực hiện thi hành án lần nữa.  Ông Vũ bị tai biến (xuất huyết não) vào cuối nằm 2014 cũng vì quá u uất và đau khổ kéo dài trước quyết định của thi hành án lại này. Đến nay ông Vũ đang trong thời gian dưỡng bệnh. Số tiền gốc nợ ông Trí là 1.5 tỷ từ năm 2009. Trước đó bà Vui cũng trả lãi đều đều. Từ lúc thua lỗ thì không thể trả tiếp. Hiện tại nếu thi hành án xong, họ nói tổng tiền phải trả cho họ là ngoài 3 tỷ. Em xin hỏi việc thi hành án như vậy có đúng không?

Xin cảm ơn!

Người gửi: T.V.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai công ty Luật Minh Khuê

Liệu có được thi hành án hai lần trên cùng một tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

 Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014   

Luật thi hành án dân sự năm 2008

Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009

Nghị định 58/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều luật thi hành án về thủ tục thi hành án dân sự

Nội dung phân tích:

Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định ;

"Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này."

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này."

Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định : 

"Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan."

Trong bài viết bạn có nói đến việc bà Vui vay tiền để kinh doanh. Theo quy định của pháp luật thì những tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Việc vay tiền của bà Vui là để làm ăn nhằm tạo thu nhập trong khối tài sản chung của vợ chồng nên ông Vũ ( chồng bà Vui) có trách nhiệm liên đới trong việc trả nợ trong trường hợp này. Do đó về nguyên tắc việc thi hành án để trả nợ phải là thi hành án đối với toàn bộ mảnh đất thuộc quyền sử dụng của hai vợ chồng chứ không phải chia tài sản chung là mảnh đất ra mỗi người một nửa, một nửa thuộc quyền sử dụng của vợ thì sẽ bị thi hành án còn một nửa thuộc quyền sử dụng của chồng thì được giữ nguyên như trường hợp thi hành án năm 2012.

Khoản 3 điều 5 nghị định 58/2009/NĐ-CP quy định : "Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể theo bản án, quyết định mà chỉ có một số người có đơn yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự  ra quyết định thi hành án đối với những người đã có đơn yêu cầu, đồng thời thông báo cho những người được thi hành khác theo bản án, quyết định đó biết để làm đơn yêu cầu thi hành án trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo. Hết thời hạn trên, nếu người được thông báo không yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản cho người đã có đơn yêu cầu thi hành án để quản lý. Quyền và lợi ích hợp pháp của những người được thi hành án đối với tài sản đó được giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật."

Căn cứ vào điều 30 Luật thi hành án thì : "Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án." 

Trường hợp nhiều người được nhận một tài sản cụ thể theo bản án, quyết định mà chỉ có một số người có đơn yêu cầu thi hành án thì Chấp hành viên tổ chức giao tài sản cho người đã có đơn yêu cầu thi hành án để quản lý. Tài sản chỉ được thi hành khi hết thời hạn 5 năm kể từ ngày có quyết định, bản án có hiệu lực của pháp luật về việc trả nợ mà người còn lại không làm đơn yêu cầu thi hành án.

Trong trường hợp này theo quy định của pháp luật thì khi vợ chồng ông Vũ đồng ý dùng mảnh đất để thi hành án trả nợ mà trong đó không có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trí thì cơ quan thi hành án phải gửi mảnh đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Vũ cho những người có đơn yêu cầu thi hành án để quản lý. Vì vậy năm 2012 cơ quan thi hành án lại tiến hành thi hành án đối với một nửa mảnh đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Vũ trong khi không có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trí là vi phạm pháp luật về thi hành án. Do đó trong trường hợp này thủ trưởng cơ quan thi hành án ở TP. Thủ Dầu Một  có quyền hủy quyết định thi hành án năm 2012 theo điều 37 Luật thi hành án dân sự năm 2008. Năm 2014, cơ quan thi hành án ở TP. Thủ Dầu Một gửi ông Vũ quyết định thi hành án toàn bộ miếng đất bà Vui đứng tên, cũng chính là miếng đất mà ông Vũ đã có 1 nửa, và đã mua lại 1 nữa từ lần thi hành án trước là không vi phạm pháp luật

Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là trong lần thi hành án năm 2012 cơ quan thi hành án đã thi hành án đối với  một nửa mảnh đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Vũ ông Vũ đã dùng tiền của bản thân để mua lại một nửa mảnh đất bị thi hành án. Làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của ông Vũ trong trường hợp này?

Điều 38 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước quy định

"Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:

1. Ra hoặc cố ý không ra quyết định:

a) Thi hành án;

b) Thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án;

c) Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án;

d) Cưỡng chế thi hành án;

đ) Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án.

e) Hoãn thi hành án;

g) Tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án;

h) Tiếp tục thi hành án.

2. Tổ chức thi hành hoặc cố ý không tổ chức thi hành quyết định quy định tại khoản 1 Điều này."

Điều 40 Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước quy định :

" Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại."

Như vậy trong trường hợp này để bảo vệ quyền lợi của mình ông Vũ có quyền gửi đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại đến cơ quan đã tiến hành việc thi hành án năm 2012. Hồ sơ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự bao gồm các giấy tờ sau:

 - Đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại; Lý do yêu cầu bồi thường; Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.)

-  Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài 1900 6162 để được tư vấn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai