Thưa Luật sư, tôi có một vấn đề mong Luật sư giả đáp giúp như sau:  Tôi có mua một miếng đất của bà A trị giá 100 triệu và mẹ tôi cũng mua của bà A một miếng đất khác  giá 150 triệu.  Tuy nhiên,  khi đem lên phòng Tài nguyên và Môi trường sang tên thì được thông báo là sổ giả và cơ quan công an đã vào cuộc điều tra. Hiện tại dã gần 1 năm rồi việc điều tra vần chưa có kết quả. Và tôi được biết miếng đất bà A bán cho tôi thì bà A cũng đã bán cho một người khác với giá 100 triệu bằng giấy viết tay. Tôi lên hỏi cán bộ điều tra thì được trả lời là việc làm của bà A chưa đủ căn cứ để khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự vì bà A khai sỏ đỏ bà nhờ người khác làm nên không biết sổ giả. Xin hỏi Luật sư là  cán bộ điều tra trả lời như vậy có đúng không và việc làm bà A đã đủ yếu tố để cấu thành tội lửa đảo chiếm đoạt tài sản chưa?  Nếu phạm tội mứa phạt của bà A là bao nhiêu?

Tôi xin chân thành cám ơn Luật sư!

Mong sơm nhận được hồi âm từ phía Luật sư!

Người gửi: Hoàng văn Thái

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật đất đai của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn đất đai về tranh chấp khi mua bán đất?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900 6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Vấn đề của bạn công ty xin được giải quyết như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ Luật hình sự năm 1999

Bộ luật dân sự năm 2005

Luật đất đai năm 2013.

Trường hợp của bạn là chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đúng theo quy định của pháp luật.

Ở đây cần xem xét:

Trường hợp 1:  Nếu hợp đồng trước của bà A với người kia đã bị tòa án tuyên vô hiệu ( do vi phạm về hình thức theo quy định điều 127 BLDS 2005) và các bên đã trả cho nhau những gì đã nhận nghĩa là bà A trả lại tiền cho người kia tiền, còn người kia trả lại đất cho bà A thì bà sẽ có quyền bán mảnh đất này cho nguời khác.

Trường hợp của bạn ở đây sẽ thuộc vào mảnh đất này không được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác vì không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo như quy định tại khoản 1 điều 168 luật đất đai 2013.  Như vậy trường hợp này của bà A sẽ không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sả mà chỉ là thực hiện một giao dịch trái với quy định của pháp luật. Bạn có thể khởi kiện ra TAND quận, huyện nơi bà A cư trú yêu cầu Tòa tuyên hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên này là các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận: anh trả lại đất cho bà A còn bà A trả lại tiền cho anh.

Trường hợp 2: hợp đồng trước của bà A chưa bị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu nhưng bà vẫn cố tình bán mảnh đất này cho anh nhằm mục đích là lấy tiền của anh nhưng thực sự bà không còn là chủ sở hữu của mảnh đất đấy nữa. Nếu xác định được lỗi của bà là cố ý, số tiền bà chiếm đoạt là 100tr đồng thì thỏa mãn dấu hiệu tại điều 139 BLHS 1999 và bà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi của bà là gian dối và bà biết được mảnh đất của bà không thể bán cho người khác vì có người đã mua, nên thỏa mãn dấu hiệu của điều 139 BLHS.  Nếu bà bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 139 BLHS 1999 thì bà sẽ phạm vào khoản 2 điều 139 BLHS với mức cao nhất của khung hình phạt là bảy năm tù.

Khoản 2 điều 139 BLHS :

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng”.

Còn nếu bà không cố ý và hoàn trả lại tiền cho anh thì có thể bà sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai