Vậy mà bà dì còn vẽ vời:đòi tiền đi tìm chủ cũ để chứng giấy, sau này đền bù còn được hưởng, em nghe vô lý quá ,lừa cả người nhà, làm cò sao không biết giải tỏa. Mà 2 đứa e nó bấn loạn rồi! tội nghiệp,giờ mất trắng mà phải mang nợ ngân hàng vì cả tin! kính mong Luật Sư giúp đỡ: có cách nào lấy lại tiền đền bù ko?có phải có cái thứ giấy "sang bộ" gì đấy ko?

Tôi xin chân thành cảm ơn, Luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

I. Cơ sở pháp lý:

Luật đất đai 2013

Bộ luật dân sự 2005

II. Nội dung tư vấn:

Qua những gì bạn trình bày thì để căn nhà 2 vợ chồng em bạn được Nhà nước đền bù hay bồi thường thì  vợ chồng em bạn phải đáp ứng được điều kiện theo quy định tại khoản 1, điều 75 của Luật đất đai 2013

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

Như vậy, để được đền bù thì buộc vợ chồng em bạn phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của ngôi nhà mới mua mang tên vợ chồng em bạn. Tuy nhiên, trong nội dung yêu cầu tư vấn bạn có trình bày mua căn nhà ( viết tay) 500 triệu đồng, như vậy việc mua bán nhà chỉ được viết tay giữa hai bên chứ chưa hề đăng ký chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại điểm a, khoản 3, điều 167 Luật đất đai 2013 thì hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất buộc phải được công chứng hoặc chứng thực 

Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

Do đó, hiện nay để có thể được cơ quan đền bù khi Nhà bị giải tỏa thì vợ chồng em bạn nên đến gặp người đã bán căn nhà đó cho họ rồi thỏa thuận hai bên mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đến văn phòng công chứng cùng với giấy đã thỏa thuận và mang theo giấy tờ tùy thân để thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất đó. Sau đó vợ chồng em bạn đến Văn phòng đăng ký đất đai nộp hồ sơ gồm hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất đã được công chứng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở của mảnh đất đó cùng với giấy tờ tùy thân của vợ chồng họ để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở mang tên hai vợ chồng họ trước khi cơ quan nhà nước giải tỏa nhà. Trong trường hợp bên bán nhà cho vợ chồng em bạn không đến văn phòng công chứng để công chứng hợp đồng chuyển nhượng thì vợ chồng em bạn nên khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện nơi có đất và nhà để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ theo quy định về hình thức và hậu quả pháp lý khi Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu theo điều 137 Bộ luật dân sự 2005

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu  

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Và khi bị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì bên bán nhà cho vợ chồng em bạn buộc phải trả lại số tiền 500 triệu và vợ chồng em bạn trả lại nhà đất cho họ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!         

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật đất đai.