Trước đây, tại khoản 1 Điều 10 Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2006 quy định:

“Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản trong phạm vi sau đây:

a) Đầu tư tạo lập nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;

 b) Đầu tư cải tạo đất và đầu tư các công trình hạ tầng trên đất thuê để cho thuê đất đã có hạ tầng;

c) Kinh doanh dịch vụ bất động sản theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật này”

Như vậy người phạm vi trên, đối với các phân khúc khác nhà đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được tham gia. Rõ ràng, nhà đầu tư nước ngoài đã không được đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong nước. Thực chất, họ chỉ kinh doanh Bất động sản dưới hình thức làm dự án, không được đầu tư theo kiểu “lướt sóng” như nhà đầu tư trong nước.

Tuy nhiên, từ ngày 01/07/2015, phạm vi kinh doanh Bất động sản của các nhà đầu tư nước ngoài đã được mở rộng hơn rất nhiều. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 11 Luật kinh doanh Bất động sản 2014:

“2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau đây:

a) Các hình thức quy định tại các điểm b, d, g và h khoản 1 Điều này;

b) Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;

c) Đối với đất thuê, đất nhận chuyển nhượng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất.

3. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được kinh doanh bất động sản dưới các hình thức sau đây:

a) Các hình thức quy định tại các điểm b, d, h khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này;

b) Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụng đất”.

Trong đó, điểm b,d,g,h Khoản 1 Điều 11 Luật kinh doanh Bất động sản 2014quy định:

“b) Thuê nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại;

d) Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;

g) Đối với đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng để cho thuê theo đúng mục đích sử dụng đất;

h) Nhận chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua”.

 Quy định trên tại Luật kinh doanh Bất động sản 2014 là sự cụ thể hoá nguyên tắc bình đẳng quy định tại Điều 51 Hiến pháp năm 2013 và Điều 5 Luật Đầu tư 2014, mở ra nhiều cơ hội hơn cho nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư, kinh doanh trên thị trường Bất động sản Việt Nam, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của hội nhập là không phân biệt đối xử.

Không chỉ vậy, việc mở rộng phạm vi kinh doanh Bất động sản cho người nước ngoài còn giúp tạo “đầu ra” cho thị trường Bất động sản, giải phóng được một số lượng lớn Bất động sản bị tồn kho nhiều năm qua, nhất là ở phân khúc căn hộ, văn phòng cho thuê, đồng thời đảm bảo sự tương thích với các quy định mới của pháp luật đất đai và pháp luật nhà ở.

Trên đây là giải đáp của Công ty Luật Minh Khuê về Phạm vi kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản đối với Nhà đầu tư nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài?. Mọi vướng mắc, chưa rõ và cần hỗ trợ pháp lý vui lòng kết nối với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900 6162 .

Rất mong được sự hợp tác pháp triển!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty Luật Minh Khuê