1. Phân biệt khiếu nại và tố cáo, một số vấn đề cần lưu ý khi giải quyết khiếu nại, tố cáo

Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được Hiến pháp và Pháp luật ghi nhận. Để những quyền này được đảm bảo thực thi trên thực tế đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, đòi hỏi những hiểu biết của công dân về khiếu nại, tố cáo phải đạt đến một trình độ nhất định. Bên cạnh đó, trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân từ phía các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền phải luôn đúng pháp luật, công bằng, khách quan, đáp ứng nguyện vọng củ

Yêu cầu này, hiện nay, vẫn chưa hoàn toàn được đáp ứng và đang tiếp tục được chú ý tới. Các Luật khiếu nại, tố cáo cùng những văn bản pháp luật khác có liên quan đã được ban hành nhằm tạo khung pháp lý cho hoạt động khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Song, vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật về khiếu nại, tố cáo là đã có không ít trường hợp còn lúng túng, chưa phân biệt rõ ràng, chính xác thế nào là khiếu nại, thế nào là tố cáo, khi đơn thư có nội dung chứa đựng cả việc khiếu nại và việc tố cáo thì thụ lý, giải quyết còn nhiều lúng túng. Đây chính là một trong nhiều nguyên nhân làm nảy sinh những nhầm lẫn, thiếu sót, thậm chí là sai lầm trong việc xử lý đơn thư, tiến hành xác minh giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân khiến người dân phải khiếu nại nhiều lần hoặc tố cáo sai về sự việc... Từ đó dẫn đến việc đơn thư khiếu nại, tố cáo không được giải quyết kịp thời, chính xác, để tồn đọng quá nhiều trong một thời gian dài mà pháp luật không cho phép.


Khắc phục tình trạng chung này, đồng thời để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như mọi người dân hiểu rõ hơn về khiếu nại và tố cáo, trước nhất cần phải “phân tích” cách hiểu hai khái niệm về khiếu nại và tố cáo theo quy định của pháp luật hiện hành.

Phân biệt khiếu nại và tố cáo, một số vấn đề cần lưu ý khi giải quyết khiếu nại, tố cáo

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162


Khiếu nại, tố cáo là hai khái niệm thường được nhắc đến cùng nhau, song tất nhiên khiếu nại và tố cáo không phải là một. Theo các văn bản pháp luật hiện nay, khiếu nại, tố cáo được hiểu như thế nào ? Điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định: “1. Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

2. Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”.


Từ hai định nghĩa này, xét về mặt lý luận, có thể tìm hiểu và phân biệt khiếu nại, tố cáo trên các phương diện sau đây:


Thứ nhất, xét về chủ thể: Chủ thể của hành vi khiếu nại có thể là công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc một quyết định kỷ luật cán bộ, công chức hoặc người đại diện hợp pháp của những người này khi họ thực hiện quyền khiếu nại. Có nghĩa là, chủ thể của hành vi khiếu nại phải là người bị tác động trực tiếp bởi chính đối tượng của hành vi đó hoặc là người được những người này uỷ quyền theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp phát hiện thấy các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức có biểu hiện vi phạm pháp luật, những người không thuộc diện vừa nêu trên cũng không có quyền khiếu nại, họ chỉ có thể “tư vấn”, “góp ý” hoặc sử dụng các hình thức tác động khác để chính người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện hành vi khiếu nại. Chính vì đặc điểm này của chủ thể khiếu nại mà pháp luật quy định nghĩa vụ của họ một cách “chặt chẽ” hơn so với chủ thể của hành vi tố cáo. Người khiếu nại có nghĩa vụ “khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết”, trong trường hợp những người khiếu nại đến khiếu nại hoặc gửi đơn khiếu nại qua đường bưu điện đến những cơ quan không có thẩm quyền giải quyết thì các cơ quan, tổ chức này chỉ có trách nhiệm “thông báo” và “chỉ dẫn” cho đương sự bằng văn bản mà không có trách nhiệm chuyển đơn. Trên cơ sở tinh thần đó mà Nghị định số 136/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/11/2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo gián tiếp quy định những cá nhân, cơ quan có quyền chuyển đơn khiếu nại của công dân gồm đại biểu Quốc Hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc các cơ quan báo chí (Điều 7); còn lại, đối với các chủ thể giải quyết khiếu nại (tức người giải quyết khiếu nại) khác thì “Đối với đơn khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, ... thì cơ quan nhận được đơn không có trách nhiệm thụ lý mà thông báo và chỉ dẫn cho người khiếu nại bằng văn bản. Việc thông báo chỉ thực hiện một lần đối với một vụ việc khiếu nại...” (Khoản 5, Điều 6, Nghị định số 136/2006/NĐ-CP). Bên cạnh đó, người khiếu nại và người tố cáo đều phải có nghĩa vụ “trình bày trung thực về nội dung sự việc” song họ không phải chịu trách nhiệm khi họ khiếu nại không đúng, ví dụ: ông A - Trưởng Thi hành án dân sự huyện X đã có hành vi hạch sách, “vòi vĩnh” đối với người được thi hành án trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình và đã bị tố cáo, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo đã cho tiến hành xác minh, làm rõ và kết luận đội trưởng A có hành vi nhận hối lộ nhưng do sự việc có tính chất ít nghiêm trọng lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trung thực nhận lỗi, số tiền chiếm đoạt không nhiều, đã trả lại và xin lỗi người bị hại, do vậy, ông A chỉ bị xử lý kỷ luật với hình thức cách chức. Không đồng ý với quyết định kỷ luật này, ông A cho rằng mức kỷ luật là quá nặng nên đã có đơn khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền. Sau khi xem xét lại sự việc, cơ quan có thẩm quyền kết luận Quyết định kỷ luật đối với ông A là hoàn toàn chính xác, hợp lý, hợp tình

và đúng theo quy định của pháp luật, khiếu nại của ông A không được chấp nhận. Khi đó, ông A có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh Quyết định kỷ luật đã có hiệu lực pháp luật nhưng không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi khiếu nại không đúng của mình. Đây chính là một điểm khác biệt giữa người khiếu nại và người tố cáo nhìn từ góc độ nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ.


Tuy nhiên, theo tác giả, pháp luật cũng nên có một quy định nhằm ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của người khiếu nại để những người này có ý thức hơn khi làm đơn khiếu nại, đồng thời có thể giúp giảm bớt việc khiếu nại tràn lan, không có cơ sở, chẳng hạn như quy định người đi khiếu nại phải nộp một khoản tiền nhất định gọi là tiền tạm ứng lệ phí giải quyết khiếu nại khi họ nộp đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền, nếu khiếu nại đúng họ sẽ được hoàn trả lại khoản tiền này, nếu là khiếu nại sai họ phải mất khoản tiền đã nộp, một hình thức gần như kiểu “án phí”?

- Đối với tố cáo: Chủ thể của hành vi tố cáo chỉ có thể là công dân, song cho dù có liên quan hay không có liên quan tới hành vi vi phạm pháp luật là đối tượng của việc tố cáo, công dân vẫn có quyền thực hiện hành vi tố cáo của mình. Ví dụ: bà X là một công dân làm nghề tự do sinh sống trên địa bàn Phường Y, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, bà X biết được rằng ông N – Trưởng Thi hành án huyện M nhận hối lộ của nhiều người, tuy bà hoàn toàn không có liên quan gì đến việc thi hành án nhưng do bất bình bà đã làm đơn tố cáo ông N tới Phòng thi hành án có thẩm quyền. Đơn tố cáo của bà X trong trường hợp này được chấp nhận và phải được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.


Thứ hai, xét về quyền và nghĩa vụ: người tố cáo có quyền “gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền” (Điều 57, khoản 1, điểm a - Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998). Theo đó, người tố cáo không có nghĩa vụ phải tố cáo tại đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, họ có thể tố cáo tại bất kì cơ quan, tổ chức Nhà nước nào. Khác với khiếu nại, khi nhận được đơn tố cáo của công dân, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xem xét giải quyết hoặc chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền tuỳ thuộc đơn tố cáo đó thuộc hay không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức mình. Điều 66 Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 quy định “trong trường hợp tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải chuyển đơn cho cơ quan, tổ chức, có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người tố cáo khi họ yêu cầu”. Song vì tố cáo có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, uy tín cũng như những quyền lợi chính đáng của cán bộ công chức Nhà nước nên người tố cáo có nghĩa vụ “trình bày trung thực về nội dung tố cáo” và phải “chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật” (Điều 57, khoản 2, điểm a, c - Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998”. Quy định này của pháp luật hiện hành đã thể hiện được tính công bằng, công lý và so với những quy định về khiếu nại thì nó thể hiện một thái độ cứng rắn hơn. Vì vậy, khi người dân làm đơn tố cáo phải cân nhắc, suy nghĩ cẩn trọng và đặc biệt không thể vì động cơ cá nhân trả thù người có mâu thuẫn với mình hay vì một sự cạnh tranh không trong sáng... mà làm đơn tố cáo, vu khống làm mất uy tín, danh dự, thậm chí gây thiệt hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người bị tố cáo, nếu người tố cáo làm đơn tố cáo sai sự thật thì họ sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý mà pháp luật đã quy định sẵn theo như quy định của Điều 57, khoản 2, điểm c Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998: người tố cáo có nghĩa vụ “chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật”. Tuy nhiên, trên thực tế, rất ít trường hợp công dân có hành vi tố cáo sai sự thật bị “xử lý”. Hơn nữa, pháp luật hiện hành cũng chưa có nhiều hình thức chế tài để có thể xử lý linh hoạt những trường hợp tố cáo sai sự thật tuỳ theo mức độ mà người tố cáo sai sự thật gây ra. Trong thời điểm hiện tại, chỉ có duy nhất Bộ luật hình sự, tại Điều 122 quy định về Tội vu khống, nhưng điều luật này chỉ áp dụng đối với những người có hành vi “bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền” còn đối với các trường hợp khác ở mức độ nhẹ hơn thì chưa có hình thức để xử lý. Ngoài ra, đối với những công dân là Đảng viên, nếu họ tố cáo sai sự thật thì họ còn có thể phải chịu kỷ luật Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc công dân tố cáo tràn lan, dù không có nguồn thông tin có độ tin cậy cao cũng tố cáo chỉ để nhằm phục vụ cho lợi ích của bản thân hoặc thậm chí là để trả thù người khác vì những lý do cá nhân.


Bên cạnh đó, nói đến chủ thể của hành vi tố cáo hiện nay vẫn còn nhiều điều cần phải xem xét bởi xét về mặt lý thuyết, chỉ có cá nhân công dân có quyền thực hiện hành vi tố cáo, còn cơ quan, tổ chức nếu phát hiện thấy những vi phạm pháp luật cũng không được nhân danh cơ quan, tổ chức mình để thực hiện hành vi tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Trong trường hợp đó, cơ quan, tổ chức phải cử đại diện cán bộ của mình nhân danh bản thân họ thực hiện quyền tố cáo của mình. Song trên thực tế, có không ít trường hợp cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội tố cáo hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước, xã hội nói chung và gây thiệt hại cho họ nói riêng. Hơn nữa, xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc quy định chỉ công dân mới có quyền thực hiện hành vi tố cáo là không hợp lý và phần nào làm giảm tính hiệu quả, tính tích cực trong nỗ lực phát hiện, xem xét, giải quyết cũng như đấu tranh phòng ngừa những vi phạm pháp luật trong hoạt động hành pháp và tư pháp hiện nay. Đơn cử một trường hợp như sau: công ty TNHH X hoạt động kinh doanh thương mại là nguyên đơn trong một bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật và phải được thi hành án theo quy định của pháp luật song vì những lý do cá nhân hoặc tư lợi riêng, một số cán bộ thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi hành bản án đó đã có hành vi gây cản trở việc thi hành bản án. Trong trường hợp này công ty X không có quyền nhân danh công ty viết đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của một số cán bộ thi hành án nói trên, tại sao pháp luật lại hạn chế chủ thể này thực hiện hành vi tố cáo nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ? Rõ ràng, về vấn đề này pháp luật hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập cần khắc phục.


Thứ ba, xét về đối tượng:- Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bị người khiếu nại cho là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khiếu nại. Song, như đã phân tích ở phần chủ thể, những quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền dù có biểu hiện trái pháp luật và có thể xâm hại đến quyền và lợi ích của một hoặc một số người nhưng không ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ thể khiếu nại thì cũng không trở thành đối tượng của hành vi khiếu nại xét trong mối quan hệ với chủ thể khiếu nại đang đề cập tới. Trở lại ví dụ về trường hợp của bà X tố cáo Đội trưởng Đội THA huyện M, khi này, do hoàn toàn không liên quan tới việc thi hành án nên bà X không thể khiếu nại Quyết định cưỡng chế thi hành án của Trưởng Thi hành án huyện M dù cho Quyết định đó là trái pháp luật, Bà chỉ có thể thực hiện hành vi tố cáo người Đội trưởng này vì những hành vi Bà cho là có biểu hiện vi phạm pháp luật.


- Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; có nghĩa là hành vi trái pháp luật là đối tượng của tố cáo có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo hoặc có thể không. Xét về cấp độ sai phạm thì nội dung tố cáo ở cấp độ cao hơn, mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng hơn so với nội dung khiếu nại. Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo. Điểm khác nhau này thể hiện rõ nét bản chất của khiếu nại và tố cáo đồng thời cho thấy thái độ của Nhà nước ta đối với tố cáo là khuyến khích, động viên, thậm chí khen thưởng những người có hành vi tố cáo đúng, góp phần làm rõ, điều tra, truy tố, xét xử những vụ án lớn, coi họ như là người có thành tích trong sản xuất, chiến đấu, thậm chí như một người có công với công cuộc đấu tranh chống tiên cực, tham nhũng.


Thứ tư, xét về thẩm quyền:Nhìn chung, khiếu nại được giải quyết lần đầu tại chính nơi có thẩm quyền ra quyết định hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật là đối tượng của hành vi khiếu nại. Trong trường hợp đương sự

không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu sẽ tiếp tục thực hiện quyền khiếu nại của mình lên cấp trên trực tiếp của cấp đã có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Toà án. Pháp luật về khiếu nại, tố cáo có quy định cụ thể từng cấp giải quyết khiếu nại bao gồm Chủ tịch UBND cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh; Giám đốc các Sở và các cấp tương đương thuộc UBND tỉnh; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan thuộc Bộ, thuộc cơ quan ngang Bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ; Tổng thanh tra. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc giải quyết khiếu nại chỉ được giải quyết ở 2 cấp, nếu đương sự còn khiếu nại thì phải khởi kiện tại Toà án. Nhưng theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì nhiều nội dung khiếu nại không thuộc thẩm quyền của Toà hành chính (ví dụ như khiếu nại về thi hành án dân sự). Đây là vấn đề bất cập gây nhiều bức xúc cho người khiếu nại. Đối với giải quyết tố cáo thì pháp luật không quy định quyết định giải quyết tố cáo nào được xác định là quyết định giải quyết tố cáo cuối cùng. Hơn nữa, thẩm quyền giải quyết tố cáo cũng có những điểm được quy định khác so với thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Điều 59 Luật khiếu nại có quy định “...Tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết”. Như vậy, khác với thẩm quyền giải quyết khiếu nại, người đứng đầu cơ quan, tổ chức nào đó là chủ thể giải quyết tố cáo không có thẩm quyền giải quyết đối với đơn tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của chính bản thân mình, họ chỉ có quyền giải quyết những tố cáo hành vi vi phạm quy định về nhiệm vụ, công vụ của người thuộc cơ quan, tổ chức mình quản lý trực tiếp. Ví dụ: ông A là Trưởng Thi hành án huyện B ra một quyết định cưỡng chế phát mại tài sản để thi hành án, bà M là người phải thi hành quyết định cưỡng chế nói trên. Không đồng ý với quyết định cưỡng chế này, bà M làm đơn khiếu nại lên chính ông A - Trưởng Thi hành án huyện B, trong trường hợp bà cho rằng ông A vì đã nhận tiền hối lộ của người được thi hành án nên mới ra một quyết định cưỡng chế nhà đất của bà trái pháp luật và bà M làm đơn tố cáo ông A, khi đó, người có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo của bà lại là Trưởng Thi hành án cấp tỉnh nơi quản lý Thi hành án huyện B.


Ngoài điểm khác nhau này, nhìn chung, thẩm quyền giải quyết tố cáo cũng được xác định gần tương tự như thẩm quyền giải quyết khiếu nại.


Thứ năm, xét về trình tự thủ tục giải quyết: nhìn chung thủ tục giải quyết khiếu nại và tố cáo được tiến hành theo hai trình tự hoàn toàn khác nhau, trình tự cụ thể được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo 1998, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005 và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định
136/2006/NĐ-CP. Một điều đáng lưu ý là về vấn đề thời hiệu, đối với khiếu nại, thời hiệu được tính là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính; đối với khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, thời hiệu được tính là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định kỷ luật, trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại. Trong khi đó, pháp luật không quy định thời hiệu tố cáo.


Từ những phân tích về các đặc điểm khác biệt giữa khiếu nại và tố cáo nêu trên, tác giả rút ra một số vấn đề sau:


Một số lưu ý khi giải quyết khiếu nại, tố cáo:
Trong thực tế, “cách thức” giải quyết của các cơ quan có thẩm quyền nhiều khi còn có sự khác nhau giữa khiếu nại và tố cáo. Nhìn chung, từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng rõ ràng “thái độ” của các nhà làm luật đối với khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo là khác nhau, vì thế chúng ta cần phải phân biệt cụ thể các đơn thư khiếu nại, tố cáo để từ đó xác định được cơ chế và thủ tục giải quyết phù hợp với từng loại đơn thư theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, khiếu nại, tố cáo trên thực tế không phải lúc nào cũng hoàn toàn độc lập với nhau, nói một cách khác khiếu nại và tố cáo trong nhiều trường hợp có mối quan hệ mật thiết.


- Trường hợp đơn vừa có nội dung khiếu nại vừa có nội dung tố cáo thì ta áp dung khoản 3, Điều 6 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP: “Đối với đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì cơ quan nhận được có trách nhiệm xử lý nội dung khiếu nại theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều này, còn nội dung tố cáo thì xử lý theo quy định tại Điều 38 Nghị định này.”. Theo đó, nếu đơn vừa có nội dung khiếu nại, vừa có nội dung tố cáo thì ta phải tách nội dung khiếu nại ra để giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và nội dung tố cáo phải giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo.


- Trường hợp tiêu đề của đơn lại không thống nhất với nội dung của đơn: Nếu tiêu đề của đơn là “Đơn tố cáo” nhưng thực chất nội dung là khiếu nại thì ta giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại và nếu tiêu đề của đơn là “Đơn khiếu nại” nhưng nội dung thực chất là tôa cáo thì giải quyết theo trình tự, thủ tục của giải quyết tố cáo. Ví dụ như vì động cơ mục đích của người khiếu nại là đòi được hưởng thừa kế nhưng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bác bỏ, vì thế họ tố cáo “vu vơ” hoặc có trường hợp tố cáo cán bộ để đạt được mục đích chính là khiếu nại việc của mình bị “thua thiệt”, ở trường hợp này thì chúng ta phải căn cứ vài nội dung để phân biệt là khiếu nại hay tố cáo để áp dụng trình tự, thủ tục giải quyết phù hợp.


- Bên cạnh đó, khiếu nại, tố cáo còn có thể chuyển hoá linh hoạt cho nhau trong quá trình cơ quan có thẩm quyền giải quyết chúng, người khiếu nại có thể trở thành người tố cáo, người giải quyết khiếu nại có thể trở thành người bị tố cáo, người bị tố cáo có thể trở thành người đi khiếu nại, khiếu nại thông thường có thể trở thành khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ công chức...chẳng hạn: công dân A là người phải thi hành án trong Bản án X đã có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình thi hành án, Chấp hành viên B ra một quyết định cưỡng chế kê biên bán đấu giá tài sản để thực hiện thi hành án. A cho rằng quyết định đó là trái pháp luật và đã có đơn khiếu nại, vì nhiếu nguyên nhân, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là C đã không xem xét sự việc để trả lời cho đương sự theo quy định của pháp luật vì thế công dân A làm đơn tố cáo cán bộ C, khi này A với tư cách ban đầu là người khiếu nại nay đã trở thành người tố cáo, C là người giải quyết khiếu nại đã chuyển thành người bị tố cáo. Trong trường hợp sau khi xác minh sự việc, C bị cơ quan có thẩm quyền kỷ luật bằng hình thức cách chức, không đồng ý với quyết định kỷ luật đó, C làm đơn khiếu nại, như vậy trường hợp này từ khiếu nại thông thưòng ban đầu đã chuyển hoá thành khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ công chức, C là người bị tố cáo đã trở thành người đi khiếu nại.


Nói tóm lại, khiếu nại, tố cáo của công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý Nhà nước là một lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích của công dân, không những thế còn tác động tới và giúp cho việc thực hiện pháp luật đựơc nghiêm chỉnh. Phân biệt khiếu nại, tố cáo một cách chuẩn xác là một trong những việc làm cần thiết quan trọng để góp phần khắc phục tình trạng đơn thư khiếu nại, tố cáo bức xúc như hiện nay. Để giúp các đồng chí trực tiếp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo hình dung được quy trình giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo một cách ngắn gọn, dễ nhớ, dễ phân biệt và dễ áp dụng trong thực tiễn, tác giả xin mô hình hoá quy trình giải quyết riêng biệt giữa khiếu nại và tố cáo theo sơ đồ kèm theo chuyên đề này.


>> Tham khảo thêm nội dung: Thời hạn giải quyết khiếu nại ? Soạn đơn khiếu nại như thế nào ?

2. Hướng dẫn giải quyết khiếu nại về đất đai ?

Những năm qua, tình hình khiếu nại và khởi kiện liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất ngày một gia tăng, tính chất, mức độ khá phức tạp. Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn đã quy định rõ các dấu hiệu để phân định thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện về vấn đề này. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền thường căn cứ vào yếu tố hình thức là đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định thẩm quyền giải quyết mà ít quan tâm đến bản chất của tranh chấp cũng như yêu cầu của đương sự.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc hai hệ thống: cơ quan hành pháp (UBND cấp huyện, cấp tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường) và cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân). Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai 2003 quy định dấu hiệu phân định thẩm quyền giải quyết giữa hai hệ thống cơ quan này, tuy có phạm vi khác nhau (Luật Đất đai 2003 mở rộng thẩm quyền của Tòa án hơn so với Luật Đất đai 1993) nhưng đều có dấu hiệu chung: tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do TAND giải quyết; tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có GCNQSDĐ thì do UBND giải quyết.

Các tranh chấp liên quan đến đất đai xảy ra rất nhiều dạng nhưng chủ yếu thuộc hai nhóm quan hệ. Nhóm thứ nhất, tranh chấp trong quan hệ pháp luật đất đai (ai là người có quyền sử dụng đất) do Luật Đất đai điều chỉnh. Loại tranh chấp này thường phát sinh từ hành vi chiếm dụng, sử dụng trái phép, cơi nới, lấn chiếm đất. Nhóm thứ hai, tranh chấp trong quan hệ pháp luật dân sự do Bộ luật Dân sự điều chỉnh. Nhóm này gồm hai dạng: tranh chấp liên quan đến các hợp đồng dân sự mà quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng (hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp… quyền sử dụng đất) và tranh chấp về quyền thừa kế quyền sử dụng đất.

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, nhà ở ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 3.1.2002 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính hướng dẫn thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất và quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đối với các tranh chấp về hợp đồng dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất và tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND, mà không cần xem xét đất có GCNQSD hay không. Như vậy, việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa TAND với UBND dựa vào yếu tố có GCNQSDĐ hay không, chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp là tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất trong quan hệ pháp luật đất đai.

Quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn đã rõ các dấu hiệu để phân định thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện về tranh chấp đất đai. Tuy nhiên, việc hiểu và thực hiện nhiều khi lại chưa rõ ràng, thiếu rạch ròi; vẫn còn xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc “lấn sân”, giải quyết không đúng thẩm quyền. Thực tế cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền thường căn cứ vào yếu tố hình thức là đất đã có GCNQSDĐ và các loại giấy tờ khác để xác định thẩm quyền giải quyết mà ít khi quan tâm đến bản chất của tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật đất đai hay quan hệ pháp luật dân sự, cũng như yêu cầu của đương sự. Xin nêu một vài vụ việc để minh chứng và cùng trao đổi.

Năm 2008, ông Ng.V.Nh gửi đơn khiếu nại đến UBND huyện Q yêu cầu phục hồi lại GCNQSDĐ cho ông, vì cho rằng con trai là Ng.Ng.S đã giả mạo chữ ký của ông để làm hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất. UBND huyện Q đã trưng cầu giám định chữ ký của ông Nh trong hồ sơ tặng cho. Kết quả giám định không phải chữ ký của ông Nh nên UBND huyện Q đã phục hồi lại GCNQSDĐ cho ông Nh. Việc UBND huyện Q cấp GCNQSDĐ cho anh S là căn cứ vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Do đó, để phục hồi lại GCNQSDĐ cho ông Nh thì cần căn cứ vào kết luận hợp đồng tặng cho có hiệu lực hay vô hiệu. Việc giải quyết tranh chấp, kết luận hợp đồng có hiệu lực hay vô hiệu thuộc thẩm quyền của Tòa án, trong vụ việc này UBND đã làm thay chức năng của Tòa án.

Ngày 22.10.2006, ông Tr.V.Nh gửi đơn đến UBND huyện Q khiếu nại việc cấp GCNQSDĐ cho ông H không đúng, vì diện tích đất này ông H mượn của ông. Trường hợp của anh Ng.V.Tr cũng tương tự, ngày 3.10.2008 anh Tr gửi đơn khiếu nại cho rằng diện tích đất mà UBND huyện Q đã cp GCNQSDĐ cho anh Đ.X.T là của gia đình anh cho mượn. Hoặc như, trường hợp của ông Ng.V.M, đã hơn mười năm nay luôn đeo đuổi việc khiếu nại đòi lại đất. Ông đã gửi hàng chục đơn đến UBND huyện Q và các cơ quan chức năng khiếu nại việc UBND xã Q.Th lấy đất có nguồn gốc của gia đình ông sử dụng hợp pháp qua nhiều thế hệ để cấp cho bốn hộ gia đình khác và cấp GCNQSDĐ cho các hộ này. Cả ba trường hợp này UBND huyện Q đều không giải quyết, vì cho rằng đất đã có GCNQSDĐ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND.

Theo tinh thần hướng dẫn tại Công văn số 16/1999/KHXX ngày ngày 1.2.1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì trong trường hợp phát sinh tranh chấp đất mà đương sự cho rằng, việc UBND cấp GCNQSDĐ không đúng thì đây là việc khiếu nại hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND. Ở các vụ việc nêu trên, đương sự không yêu cầu giải quyết tranh chấp đất mà họ khiếu nại việc UBND cấp GCNQSDĐ cho người đã mượn đất, hoặc người chiếm dụng bất hợp pháp đất của họ là không đúng pháp luật. Đó là việc khiếu nại quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND.

Lâu nay nhiều người cho rằng, nguyên nhân tranh chấp đất đai gia tăng là do giá đất tăng. Tuy nhiên, đó chỉ là nguyên cớ. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp đối với các hợp đồng dân sự liên quan đến đất đai là do sự hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế nên không thực hiện; thực hiện không đúng, không đầy đủ các thủ tục pháp lý; đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, nguyên nhân phát sinh chủ yếu do công tác quản lý đất đai lỏng lẻo, mập mờ; các sai sót trong đo đạc, lập bản đồ địa chính, trong việc cấp GCNQSDĐ. Thực tế cho thấy, sự sai lệch về vị trí, ranh giới, kích thước, diện tích… ghi trong GCNQSDĐ so với thực địa xảy ra khá phổ biến đã dẫn đến sự nghi ngờ việc lấn chiếm giữa các hộ liền kề rồi xảy ra tranh chấp. Một khi hồ sơ địa chính xác định rõ ràng, chính xác vị trí, ranh giới, diện tích các thửa đất thì ít ai dám lấn chiếm đất của người khác.

Như vậy, để giải quyết dứt điểm, kịp thời, đúng đắn các tranh chấp đất đai thì cần có sự nhìn nhận thấu đáo với tư duy “điều trị nguyên nhân” chứ không “điều trị triệu chứng”. Nếu tranh chấp phát sinh do các sai sót trong công tác quản lý đất đai thì UBND phải có trách nhiệm giải quyết, sửa sai chứ không thể hiểu máy móc là đất đã có GCNQSDĐ để đùn đẩy trách nhiệm.

>> Xem thêm: Mẫu đơn khiếu nại giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất

3. Có cần phải khiếu nại trước khi khởi kiện báo chí hay không ?

Những năm gần đây, ngày càng xảy ra nhiều vụ người dân khởi kiện các cơ quan báo chí. Tại hội nghị tổng kết công tác ngành tòa án năm 2010, TAND TP Hà Nội đã nêu lại vướng mắc về điều kiện khởi kiện đối với án loại này và kiến nghị TAND Tối cao có hướng dẫn thống nhất.Trước những cách hiểu khác nhau, TAND Tối cao chưa thể có hướng dẫn ngay mà còn phải tiếp tục nghiên cứu. Một câu hỏi: Khi người dân nhiều lần yêu cầu cơ quan báo chí cải chính, xin lỗi vì đăng tin sai sự thật, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của họ mà báo chí không chịu trả lời thì người dân có quyền khởi kiện thẳng ra tòa hay không?

Kiện báo chí: Có cần khiếu nại trước?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Luật cho phép

Theo Luật Báo chí, báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì phải đăng, phát sóng lời cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, tác giả. Trong trường hợp có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng kết luận này.

Trong trường hợp cơ quan báo chí không đăng, không cải chính, xin lỗi hoặc cải chính, xin lỗi không đúng các quy định của Luật Báo chí; không đăng, phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì họ có quyền khiếu nại với cơ quan chủ quản của báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện ra tòa.

Đồng thời, theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 51 năm 2002 (quy định chi tiết Luật Báo chí), sau ba lần đăng, phát ý kiến phát biểu của tổ chức, cá nhân và cơ quan báo chí mà không có sự thống nhất giữa hai bên..., tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan chủ quản của báo đó, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện ra tòa.

Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 3 Quy chế cải chính trên báo chí (ban hành kèm Quyết định 03 năm 2007 của bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin), khi nhận được ý kiến phát biểu bằng văn bản của tổ chức, cá nhân cho rằng những nội dung thông tin đã đăng, phát trên báo chí vi phạm..., cơ quan báo chí phải đăng, phát ý kiến phát biểu của tổ chức, cá nhân đó theo quy định.

Trường hợp không đăng, phát, cơ quan báo chí phải gửi văn bản thông báo nêu rõ lý do cho tổ chức, cá nhân đó biết, đồng thời gửi báo cáo bằng văn bản tới cơ quan quản lý nhà nước về báo chí... Nếu không có sự nhất trí giữa hai bên thì tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan chủ quản của báo, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện ra tòa.

Tòa vẫn lúng túng

Dù luật quy định như vậy nhưng theo TAND TP Hà Nội, thực tế hiện vẫn đang có hai luồng quan điểm trái ngược nhau về chuyện này.

Luồng quan điểm thứ nhất cho rằng khi người dân đã nhiều lần yêu cầu cơ quan báo chí giải quyết việc đăng tin không đúng sự thật mà báo chí không trả lời thì có thể coi như báo chí đã không giải quyết. Lúc này, công dân có quyền lựa chọn một trong hai cách: Khiếu nại lên cơ quan chủ quản của báo hoặc khởi kiện ra tòa yêu cầu báo cải chính, bồi thường thiệt hại. Với những trường hợp này, tòa án phải nhận đơn, thụ lý. Bởi lẽ khi báo chí không trả lời yêu cầu, nếu tòa không nhận đơn thì sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của đương sự.

Ngược lại, luồng quan điểm thứ hai lại bảo theo Quy chế cải chính thì với những yêu cầu này bắt buộc cơ quan báo chí phải có văn bản trả lời, nêu rõ lý do không đăng cải chính, xin lỗi. Đến lúc này, cá nhân, tổ chức mới có quyền khởi kiện. Nếu vẫn chưa có văn bản trả lời của cơ quan báo chí mà đương sự khởi kiện thì tòa không được phép thụ lý mà phải trả lại đơn kiện vì chưa đủ điều kiện.

TAND TP Hà Nội đã bày tỏ sự đồng tình với quan điểm thứ hai và kiến nghị TAND Tối cao thống nhất hướng xét xử chung cho toàn ngành. Tuy nhiên, TAND Tối cao cho biết đây là một vấn đề lớn, phức tạp, chưa thể trả lời ngay mà sẽ tiếp thu, tiếp tục nghiên cứu.

TP.HCM: Chưa khiếu nại vẫn thụ lý

Ở TP.HCM, nhiều tòa từ trước đến nay vẫn nhận đơn khởi kiện trực tiếp của đương sự, không buộc đương sự phải có khiếu nại đến báo rồi mới chấp nhận thụ lý. Lý giải, lãnh đạo các tòa này cho hay họ xác định đây là tranh chấp dân sự. Các đương sự thường đòi báo cải chính, xin lỗi, bồi thường danh dự, uy tín bị xâm hại..., có tính chất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chiếu theo pháp luật dân sự, ai thấy mình bị thiệt hại thì có quyền đòi bồi thường. tòa thấy đơn kiện có căn cứ thì thụ lý chứ không đòi đương sự phải khiếu nại, phải có trả lời của cơ quan báo chí... hoặc những thủ tục “tiền tố tụng” như trong án hành chính.

Từ báo Quảng Trị đến báo Dăk Lăk

Năm 2000, báo Quảng Trị có bài “Kiên quyết tấn công tội phạm” tường thuật việc bắt giữ ông Nguyễn Văn Đàn của Đội Cảnh sát hình sự Công an thị xã Đông Hà...

Sau đó, ông Đàn đã gửi đơn đến TAND thị xã Đông Hà khởi kiện báo. Ông Đàn cho rằng mình chưa hề bị kết tội bởi bất kỳ một bản án có hiệu lực pháp luật nào của tòa án nhưng báo lại nêu là “kiên quyết chống tội phạm” là xúc phạm đến uy tín, danh dự của ông. Ông yêu cầu báo phải cải chính, xin lỗi, bồi thường thiệt hại...

Lúc này, một vấn đề pháp lý được đặt ra và gây rất nhiều tranh cãi trong giới luật học là khi báo chí xúc phạm công dân có buộc phải qua thủ tục khiếu nại ở cơ quan báo chí rồi mới được kiện ra tòa hay không. Tranh cãi này đến nay vẫn chưa có hồi kết...

Cuối tháng 8-2009, đến lượt báo Dăk Lăk bị bốn hộ dân khởi kiện ra TAND Krông Búk (cũ, nay là thị xã Buôn Hồ) đòi cải chính, xin lỗi và bồi thường thiệt hại.

Báo Dăk Lăk cho rằng các đương sự chưa khiếu nại đến báo theo quy định tại Điều 9 Luật Báo chí và Nghị định số 51 năm 2002 của Chính phủ (quy định về cải chính trên báo chí). Tòa phải áp dụng quy định người khởi kiện chưa có quyền khởi kiện để trả lại đơn cho đương sự. Kèm theo một số lý do khác nên báo đã không tham gia phiên xử sơ thẩm.

Dù vậy, TAND thị xã Buôn Hồ vẫn tuyên buộc báo Dăk Lăk phải đăng bài cải chính những nội dung sai sự thật và công khai xin lỗi theo đúng Luật Báo chí. Theo tòa, đây là quan hệ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được quy định tại khoản 6 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Tuy nhiên, sau đó VKSND tỉnh Dăk Lăk đã kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND thị xã Buôn Hồ vì cho rằng việc tòa thụ lý vụ án khi các đương sự chưa thực hiện việc khiếu nại đến cơ quan báo chí là vi phạm tố tụng nghiêm trọng…

>> Tham khảo nội dung liên quan: Mẫu đơn khiếu nại mới nhất và hướng dẫn soạn đơn khiếu nại

4. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp khiếu nại, tố cáo

Năm 2006, Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh đón tiếp 5.391 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo (khiếu kiện) với 3.045 vụ, việc. Năm 2007 đón tiếp 7.170 lượt người với 3.173 vụ, việc.

Năm 2008 tiếp 7.258 lượt người với 2.621 vụ, việc. Sang năm 2009, số vụ, việc khiếu kiện tuy có ít hơn những năm trước, nhưng diễn biến có chiều hướng phức tạp hơn, thậm chí đã có vụ, việc mang tính bạo động, quá khích, mang màu sắc chính trị và tôn giáo. Có vụ, việc căng thẳng đến mức vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép. Hầu như không ngày nào không có người đi khiếu kiện dai dẳng, bức bối.

Việc khiếu kiện đã làm ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương. Mặc dù công tác giải quyết khiếu kiện của công dân đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể các địa phương giải quyết tích cực, nhưng số việc giải quyết dứt điểm được còn ít, thậm chí nhiều nơi, việc cũ giải quyết chưa xong việc mới đã phát sinh. Hiện nay trên cả nước, các vụ việc khiếu kiện của công dân còn tồn đọng rất nhiều.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

1. Nhận xét chung về tình hình khiếu kiện trong thời gian qua

Nhận xét đầu tiên, dễ thấy nhất là số công dân đến trụ sở tiếp dân khiếu kiện ngày càng tăng (năm 2006 tăng 34,3% so với năm 2005, năm 2007 tăng 33% so với năm 2006, năm 2008 tăng 2,1% so với năm 2007, tăng 34,6% so với năm 2006 và tăng 104,9% so với năm 2005). Khiếu kiện đông người năm 2007 tăng so với năm 2006, năm 2008 giảm không đáng kể so với năm 2007 và số đoàn khiếu kiện đông người vẫn rất nhiều (năm 2006 là 145 đoàn, năm 2007 là 171 đoàn, năm 2008 là 142 đoàn).

Người dân đi khiếu kiện với nhiều nội dung, nhưng chủ yếu vẫn là: (i) khi thu hồi đất, bồi thường chưa thoả đáng, (ii) đòi lại đất cũ, (iii) đòi lại nhà, (iv) đòi tài sản cải tạo công thương nghiệp, (v) kiến nghị sửa đổi chính sách của Nhà nước, (vi) tòa án xét xử chưa khách quan, (vii) tố cáo cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, thủ tục hành chính rườm rà, chậm, gây khó khăn cho người dân...

Tình hình khiếu kiện của người dân đang hình thành các điểm nóng ở nhiều địa phương. Trước trụ sở tiếp dân, trước cơ quan làm việc của các sở, ngành và trụ sở UBND các tỉnh, thành phố hầu như không ngày nào là không có người dân đến khiếu kiện. Vụ, việc khiếu kiện có thể do cá nhân đứng đơn với yêu cầu độc lập, có khi là quyền lợi của cả nhóm, của cả tập thể nên cùng ký tên trong đơn và đòi hỏi giải quyết quyền lợi chung. Những người dân đi khiếu kiện áp dụng mọi hình thức đa dạng như tập trung nhiều ngày trước trụ sở tiếp công dân của Đảng và Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh, trước trụ sở Vụ Công tác phía Nam của Văn phòng Quốc hội và các địa điểm tiếp dân khác. Một số người có ý đồ gây rối, gây nhiễu để lãnh đạo phải nhận đơn, giải quyết đơn bằng cách chặn xe công chức có trách nhiệm, vào trong trụ sở nhờ tắm, giặt, vệ sinh... Một số tập trung đông người gây ách tắc giao thông, tạo áp lực với cơ quan nhà nước. Họ còn mang Quốc kỳ, ảnh Bác, biểu ngữ và đeo huân huy chương, giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng... đi diễu hành từng đoàn qua các đường phố nhằm gây sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế...

Tính chất của việc khiếu kiện cũng đã khác. Trong các vụ khiếu kiện đông người đã có sự liên kết giữa những người đi khiếu kiện của các địa phương khác nhau, của người dân tộc thiểu số với nhau để tạo áp lực đối với chính quyền. Khiếu kiện của người dân không chỉ nhằm đòi hỏi sự công bằng, dân chủ mà hiện còn chứa đựng tiềm ẩn các mâu thuẫn đối kháng, mang tính dân tộc và tôn giáo. Một số vụ, việc khiếu kiện đã vượt quá giới hạn cho phép bởi những người khiếu kiện đã tập trung thành đoàn, biểu tình đi qua các đường phố với khẩu hiệu quá khích như “Việt Nam không có nhân quyền”, “Chính quyền cướp đất của dân, đả đảo Chủ tịch tỉnh A, B”.... Thậm chí, một số người đã tụ tập trước cơ quan Tổng Lãnh sự quán Mỹ, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản với ý đồ bêu riếu chính quyền, Nhà nước Việt Nam và nhờ can thiệp. Một số vụ khiếu kiện đã “đổi màu” do các thế lực phản động từ trong và ngoài nước xúi giục, kích động (như khối 8406 đòi tự do dân chủ nhân quyền). Điển hình như vụ nhiều công dân tập trung tại Nhà thờ Đức Bà để biểu dương lực lượng, nêu yêu sách...

Tình trạng khiếu kiện gia tăng và ngày càng phức tạp như trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Có thể chỉ ra một vài nguyên nhân chính như sau:

- Do sự yếu kém của cán bộ khi giải quyết khiếu kiện của công dân. Nhiều công chức làm nhiệm vụ tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân còn yếu kém về trình độ, năng lực chuyên môn. Đồng thời, cách giải quyết khiếu kiện ở cấp cơ sở còn quá cứng nhắc, rập khuôn theo quy định; chưa chú ý xem xét đến tính lịch sử của các vấn đề gây khiếu kiện. Một số công chức yếu kém về phẩm chất đạo đức, chấp hành các quy định về giải quyết khiếu kiện chưa nghiêm, việc thực thi nhiệm vụ chưa tốt, xử lý công việc chưa minh bạch, có những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, gây khó khăn trong quá trình giải quyết khiếu kiện.

- Chính sách về đất đai còn chưa phù hợp, chính sách đền bù tái định cư chưa hợp lý và thống nhất. Từ hệ thống pháp luật, chính sách đến công tác quản lý các cấp còn một số vướng mắc, bất cập giữa lý luận và thực tế.

- Việc tiếp công dân còn bị coi nhẹ và chưa được tổ chức tốt, cán bộ tiếp dân chưa am hiểu pháp luật, thiếu trách nhiệm trong việc tiếp dân và thậm chí còn rất vô cảm trước bức xúc của dân, giải quyết sự việc chưa thấu tình, đạt lý; không phổ biến, hướng dân người dân khiếu kiện đúng quy định của pháp luật; chỉ nhận đơn thư rồi “để đó”, dẫn đến tình trạng người dân khiếu kiện vượt cấp.

- Do thực tế nhiều người dân không hiểu hết các quy định của pháp luật, đồng thời, do các biến động của lịch sử và ý thức người dân chưa cao nên khâu lưu giữ tài liệu, giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng tài sản của cá nhân, tổ chức chưa tốt nên khi có tranh chấp hoặc giao dịch, họ không đủ chứng cứ chứng minh và vì vậy, không đủ cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

- Nhiều trường hợp khiếu kiện là do bị kẻ xấu lôi kéo, xúi giục, kích động hoặc bị lợi dụng.

2. Giải pháp giải quyết khiếu kiện

Trước tình hình khiếu kiện của người dân hiện nay, chúng ta không hoang mang, dao động, không thổi phồng sự việc nhưng cũng không chủ quan, coi nhẹ, lơ là. Để hạn chế tới mức thấp nhất tình hình khiếu kiện, ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân, chúng ta cần phải có nhiều giải pháp và phải giải quyết một cách đồng bộ. Chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau.

2.1 Tiếp tục quan tâm hoàn thiện hệ thống pháp luật vì pháp luật hiện nay vừa thừa lại vừa thiếu, chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu tính thống nhất, nhiều quy định không còn phù hợp với tình hình thực tế nhưng chậm được bổ sung, thay đổi. Sự bất cập này dễ gây ra thiệt thòi cho người dân do áp dụng, thậm chí vận dụng một cách tuỳ tiện của cán bộ địa phương. Không ít địa phương tùy tiện trong việc thực hiện chính sách đất đai, chính sách đền bù giá đất cho dân, không công bằng, thiếu công khai quy hoạch, thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các Bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát lại toàn bộ (nếu cần thì sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới) các quy định của pháp luật liên quan đến đất đai, đến chính sách giải toả, đền bù, tái định cư, đặc biệt là khung giá đất để đảm bảo người dân nếu bị giải toả không bị thiệt thòi.

“Mở đường qua nhà một ông lãnh đạo, người ta phải uốn cong nó, để... bảo vệ ngôi nhà của người lãnh đạo. Thu đất của dân, đền bù 100.000 đồng /m2, đổ vài xe cát vào, bán vài triệu một mét. Làm thế dân không khiếu kiện mới lạ”.

(Phát biểu của Ông Vũ Đức Khiển, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội khóa XI tại Hội nghị Tổng kết Chỉ thị 09 của Ban Bí thư và chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo (tổ chức tại Hà Nội ngày 10/10/2005).

2.2 Tổ chức đảng, các cấp chính quyền địa phương cần quán triệt một cách nghiêm túc Kết luận số 130-TB/TW của Bộ Chính trị về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Chính phủ nên sớm có Nghị quyết của Chính phủ về việc xử lý tích cực những nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của người dân (đặc biệt là các vụ khiếu kiện đông người, khiếu kiện liên quan đến tôn giáo, khiếu kiện của đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng). Các cơ quan trung ương cần tăng cường cán bộ giúp địa phương sớm giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu kiện tồn đọng.

2.3 Thanh tra Chính phủ cần sớm nghiên cứu lập đề án củng cố, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của trụ sở tiếp dân theo hướng tăng thẩm quyền cho trụ sở tiếp dân, giao thêm chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho cán bộ tiếp dân tại Trụ sở. Cần thành lập thêm trụ sở tiếp công dân của Đảng và Nhà nước tại khu vực Tây Nam Bộ và khu vực Tây Nguyên.

2.4 Rất nhiều các tranh chấp hiện nay theo Luật Khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, của các bộ, ngành và nhiều vụ việc Thủ tướng Chính phủ phải trực tiếp giải quyết, trong khi đây không phải là các cơ quan tài phán. Toà án nhân dân tối cao cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để kiện toàn đội ngũ làm công tác xét xử, báo cáo với Quốc hội để cố gắng trong thời gian sớm nhất, mọi tranh chấp của công dân sẽ do tòa án giải quyết.

2.5 Các Bộ, ngành TW, Văn phòng Chính phủ, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng khi nhận đơn, thư khiếu kiện của dân về việc khiếu nại các quyết định hành chính (quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố) thì cần thụ lý, giải quyết luôn hoặc nói rõ quan điểm đúng sai theo thẩm quyền để trả lời cho đương sự và UBND các tỉnh, thành phố. Tránh chuyển đơn, thư với cách đặt vấn đề chung chung như “đề nghị xem xét, giải quyết” vì sẽ làm cho đương sự trông chờ, hy vọng và nhiều lúc gây khó khăn cho địa phương.

2.6 Giải quyết khiếu kiện lần đầu của các địa phương là khâu then chốt, khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến quá trình giải quyết khiếu kiện. Các địa phương cần tích cực xử lý ngay những nội dung liên quan đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của người dân, đặc biệt là các vụ khiếu kiện đông người, khiếu kiện của đồng bào dân tộc thiểu số. Chính quyền cơ sở cần giải quyết đúng pháp luật kết hợp với giải thích, động viên người dân, nhằm khắc phục tối đa tình trạng khiếu kiện và khiếu kiện vượt cấp.

2.7 Cần nâng cao ý thức và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức chính quyền các cấp ở địa phương. Khắc phục tình trạng đùn đẩy trong bộ máy hành chính, người có trách nhiệm nhận đơn thư khiếu nại tố cáo của dân lại chỉ làm một cách chiếu lệ, không cần nắm nội dung đơn thư mà tiếp tục “kính chuyển” cho xong việc. Nhiều thủ trưởng ngại tiếp dân, khoán trắng cho cấp dưới. Hệ quả tất yếu là chất lượng giải quyết khiếu kiện thấp, không dứt điểm, hồ sơ khiếu kiện ngày càng thêm chồng chất. Hơn 50% đơn thư khiếu kiện tiếp vì địa phương chưa làm đúng chính sách, thiếu công khai, mất dân chủ, tham nhũng, tiêu cực; thậm chí có cán bộ còn thách thức dân, chính quyền có nơi, có lúc tỏ thái độ không thiện chí giải quyết khiếu kiện của dân

2.8 Nâng cao chất lượng hoạt động và sớm kiện toàn đội ngũ cán bộ của các cơ quan tư pháp. Do trình độ năng lực hoặc phẩm chất đạo đức cán bộ còn hạn chế nên nhiều vụ, việc xét xử không khách quan, sự chỉ đạo trong ngành thiếu nhất quán, không rõ ràng nên đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích chính đáng của người dân. Trong lĩnh vực đấu tranh trấn áp tội phạm, một số cơ quan bảo vệ pháp luật có những sai lầm nghiêm trọng như bắt oan, giam giữ không đúng quy định và khi đã thấy sai nhưng không chịu sửa, không chịu khắc phục thiếu sót (tại Trụ sở tiếp dân, khiếu kiện liên quan đến quyết định của các cấp Toà án năm 2006 là 425 vụ việc, năm 2007 là 559 vụ việc, năm 2008 là 449 vụ việc).

2.9 Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nước các cấp, nâng cao ý thức chấp hành của cấp dưới. Cần chấm dứt ngay tình trạng “trên bảo dưới không nghe” bởi nhiều vụ khiếu kiện cấp trên đã có ý kiến chỉ đạo, nhưng cấp dưới vẫn đùn đẩy, né tránh không thực hiện. nhưng chúng ta vẫn chậm xử lý hoặc xử lý thiếu kiên quyết nên người dân mất nhiều niềm tin vào Đảng và Nhà nước.

2.10 Sớm xây dựng các tiêu chí đánh giá ý thức, đạo đức và trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức. Việc thanh tra trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức phải sớm được triển khai và coi đây là một việc làm thường xuyên ở các Bộ, ngành và tất cả các địa phương. Khắc phục thái độ vô cảm, thờ ơ trong công việc giải quyết khiếu kiện của một số cán bộ, đảng viên.

>> Tham khảo thêm nội dung liên quan: Tư vấn thủ tục khiếu nại ? Nộp đơn khiếu nại ở đâu ?

5. Thời hạn khiếu nại trong hoạt động thương mại là bao lâu ?

Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) không còn quy định: “quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại trọng tài, toà án có thẩm quyền” như khoản 1 Điều 241 Luật Thương mại 1997 (LTM 1997). Thực tế lập pháp đó làm nảy sinh vấn đề: tòa án hay trọng tài phải quyết định như thế nào trong trường hợp tương tự, khi không còn quy định rõ ràng về hậu quả pháp lý của việc bỏ qua thời hạn khiếu nại?

I. Thời hạn khiếu nại theo LTM 1997 và thực tiễn tài phán

1. Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 không quy định về thời hạn khiếu nại. Bởi vậy, vấn đề này không hề xuất hiện trong thực tiễn tài phán liên quan đến Pháp lệnh này. Thậm chí, Pháp lệnh này cũng không quy định thời hiệu khởi hiện như các văn bản pháp luật nội dung sau này. Tuy nhiên, các bên hợp đồng kinh tế cũng chỉ có quyền yêu cầu Trọng tài kinh tế giải quyết tranh chấp trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày xảy ra vi phạm hợp đồng kinh tế hoặc từ ngày một bên cho là đã có vi phạm xảy ra (1). Thời hạn sáu tháng này sau đó cũng được Pháp lệnh về thủ tục xét xử các vụ án kinh tế năm 1994 tiếp nhận dưới hình thức thời hiệu khởi kiện (2). Dường như cả hai pháp lệnh này đều đã thể hiện chức năng đặc thù của pháp luật thương mại là đòi hỏi các tranh chấp phát sinh phải sớm được các bên tìm cách giải quyết thông qua quy định về thời hạn yêu cầu giải quyết tranh chấp hay thời hiệu khởi kiện ngắn (3).

2. LTM 1997 không thay thế Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, bởi vì phạm vi điều chỉnh của Luật này hẹp hơn, chỉ là hoạt động thương mại theo nghĩa hẹp, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân, được cụ thể hóa bằng 14 hành vi thương mại khác nhau (4), trong đó dịch vụ thương mại chỉ bao gồm các dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa (5). Như vậy, xét từ góc độ pháp luật hợp đồng thì Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 là luật chung (lex generalis), còn các quy định về hợp đồng trong LTM 1997 là luật riêng (lex specialis). Bản thân LTM 1997 không quy định rõ mối quan hệ giữa Luật này với Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (6), nhưng các cơ quan tài phán đều tuân theo nguyên tắc: Đối với các hoạt động thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 1997 thì áp dụng quy định của Luật này, chỉ khi Luật này không điều chỉnh một vấn đề nào đó liên quan đến hợp đồng thì mới áp dụng quy định của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Chẳng hạn, do LTM 1997 không điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại, nên việc xem xét hợp đồng đó có vô hiệu hay không được căn cứ quy định tại Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (7).

3. Theo LTM 1997, thời hiệu khởi kiện áp dụng cho tất cả các hành vi thương mại là hai năm, kể từ thời điểm phát sinh quyền khiếu nại (8). Như vậy, so với quy định của Pháp lệnh Trọng tài kinh tế năm 1990 và Pháp lệnh về Thủ tục xét xử các vụ án kinh tế năm 1994 (thời hiệu khởi kiện là 6 tháng) thì thời hiệu khởi kiện theo LTM 1997 dài gấp bốn lần. Phải chăng đã có sự thay đổi quan điểm của các nhà làm luật, theo đó không cần áp dụng thời hiệu khởi kiện ngắn đối với các tranh chấp phát sinh từ các hành vi thương mại? Hoàn toàn không phải như vậy. Bởi vì, bên cạnh quy định về thời hiệu khởi kiện, Luật này đã bổ sung quy định về thời hạn khiếu nại. Theo đó, thời hạn khiếu nại là thời hạn mà bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền khiếu nại đối với bên vi phạm. Quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Trọng tài, Toà án có thẩm quyền (9). Các bên được quyền thỏa thuận về thời hạn khiếu nại trong hợp đồng. Trường hợp các bên không thỏa thuận thì áp dụng các thời hạn khiếu nại luật định như sau (10): (i) Ba tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa; (ii) Sáu tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về quy cách, chất lượng hàng hóa; trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hành; (iii) Ba tháng kể từ khi bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng đối với khiếu nại về các hành vi thương mại khác. Riêng đối với dịch vụ giao nhận hàng hóa thì thời hạn khiếu nại chỉ là 14 ngày kể từ ngày giao hàng. Với quy định về thời hạn khiếu nại như vậy, Luật này đã buộc bên bị vi phạm phải tiến hành khiếu nại trong thời hạn khiếu nại, nếu không sẽ bị mất quyền khởi kiện, cho dù thời hiệu khởi kiện chưa kết thúc (11). Như vậy, thông qua quy định về thời hạn khiếu nại, LTM 1997 vẫn giữ nguyên mục tiêu đặc thù của pháp luật thương mại là buộc các bên tranh chấp phát sinh phải sớm thực hiện việc giải quyết tranh chấp của họ, để các tranh chấp đó không tiếp tục gây trở ngại đến các quan hệ thương mại khác.

4. Trọng tài, tòa án Việt Nam cũng đã từng phán quyết về thời hạn khiếu nại theo quy định tại Điều 241 LTM 1997. Tiêu biểu là ba phán quyết sau đây:

4.1. Trong vụ kiện “Tranh chấp trong hợp đồng mua bán thiết bị”, ngày 17/01/2003 nguyên đơn là người bán Nhật Bản đã khởi kiện bị đơn là người mua Việt Nam trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC), theo đó, nguyên đơn yêu cầu Trọng tài buộc bị đơn thanh toán tiền mua một lô hàng thiết bị theo hợp đồng mua bán ký ngày 05/6/2002 với số tiền là 5.107.193 Yên Nhật (12). Thời hạn thanh toán theo hợp đồng là 60 ngày sau khi bị đơn nhận được B /L. Do đó, nguyên đơn cho rằng, thời hạn cuối cùng mà bị đơn phải thanh toán tiền hàng là ngày 06/10/2002. Tuy nhiên, bị đơn đã không thanh toán, mà khiếu nại nguyên đơn đòi trả lại hàng. Nguyên đơn không chấp nhận khiếu nại, nên bị đơn đã khởi kiện nguyên đơn trước trọng tài vào ngày 31/12/2002 yêu cầu được trả lại hàng.

Trong vụ kiện theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ngày 17/01/2003, bị đơn đã yêu cầu trọng tài bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn với lập luận: Nguyên đơn đã không khiếu nại trong thời hạn quy định của LTM 1997, cụ thể thời hạn khiếu nại đã kết thúc trước khi nguyên đơn khởi kiện là 11 ngày. Do vậy, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 241 Luật này, nguyên đơn đã mất quyền khởi kiện.

Ngược lại, nguyên đơn cho rằng, tại thời điểm trọng tài nhận đơn kiện của bị đơn ngày 31/12/2002, “đồng hồ” tính thời hạn khiếu nại đối với các bên trong vụ tranh chấp này sẽ dừng lại, điều này cũng đồng nghĩa với việc phía nguyên đơn không còn bị chi phối bởi thời hạn khiếu nại và không bị mất quyền khởi kiện như Điều 241 LTM 1997 quy định. Mặt khác, nguyên đơn còn cho rằng, nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn thanh toán trong bất kỳ thời gian nào mà không cần thiết phải trải qua giai đoạn khiếu nại. Thời hạn khiếu nại 3 tháng kể từ khi bên vi phạm nghĩa vụ đối với các hành vi thương mại khác quy định tại điểm c khoản 2 Điều 241 LTM 1997 không bao gồm nghĩa vụ thanh toán, bởi vì nghĩa vụ thanh toán không phải là một trong các hành vi thương mại đươc quy định tại Điều 45 LTM 1997. Mặc dù vậy, nguyên đơn khẳng định là đã thực hiện khiếu nại yêu cầu bị đơn thanh toán thông qua bản fax gửi bị đơn vào ngày 19/11/2002.

Tuy nhiên, trong vụ kiện này, nguyên đơn đã không chứng minh được đã gửi bị đơn bản fax khiếu nại việc thanh toán vào ngày 19/11/2002 hay bị đơn đã nhận được bản fax như vậy. Mặt khác, nguyên đơn cũng đã không khiếu nại yêu cầu bị đơn thanh toán trong thời hạn khiếu nại 3 tháng kể từ ngày bị đơn phải hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 241 LTM 1997 (13). Bởi vậy, trọng tài đã bác đơn kiện của nguyên đơn do bị đơn đã mất quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 241 LTM 1997.

Như vậy, vấn đề then chốt trong vụ kiện này là việc nguyên đơn có thực hiện quyền khiếu nại trong thời hạn luật định (do không có thỏa thuận khác của các bên về thời hạn khiếu nại) hay không? Và trọng tài đã phán quyết bác đơn kiện của nguyên đơn do nguyên đơn không chứng minh được đã thực hiện quyền khiếu nại trong thời hạn luật định và vì vậy đã mất quyền khởi kiện trước khi khởi kiện, mặc dù thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

4.2. Trong vụ án “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa” được phán quyết bởi Bản án sơ thẩm số 245/2005/KDTM-ST ngày 29/8/2005 của TAND TP. Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 91/2005/KDTM-PT ngày 29/11/2005 của TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh; được xét lại bởi Quyết định giám đốc thẩm số 07/2007/KDTM-GĐT ngày 07/8/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, vấn đề thời hạn khiếu nại cũng có một vai trò quan trọng trong quyết định giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm và sơ thẩm (14).

Trong vụ án này, bên cạnh lý do nội dung dẫn đến quyết định hủy bản án phúc thẩm và sơ thẩm, Hội đồng thẩm phán TANCTC còn viện dẫn “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” của các tòa án này. Theo đó, lẽ ra tòa án cấp sơ thẩm phải trả lại đơn kiện cho đương sự theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 168 BLTTDS, nhưng lại thụ lý vụ án và quyết định chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền hàng của nguyên đơn. Trong khi đó trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện kể từ ngày lập hóa đơn bán hàng cuối cùng là ngày 29/11/2001, theo đó, bị đơn phải thanh toán tiền hàng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập hóa đơn, đến khi khởi kiện (05/5/2005) nguyên đơn đã có khiếu nại hoặc đòi hỏi bị đơn thanh toán. Như vậy, nguyên đơn đã mất quyền khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 241 và khoản 1 Điều 241 LTM 1997 từ ngày 01/4/2002; đồng thời thời hiệu khởi kiện của vụ án cũng đã hết.

4.3. Trong vụ án “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa” được phán quyết bởi Bản án sơ thẩm số 94/KTST ngày 10/5/2005 của TAND TP. Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 86/2005/KTPT ngày 14/11/2005 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh và được xét lại bởi Quyết định giám đốc thẩm số 07/2006/KDTM-GĐT ngày 06/7/2006, vấn đề khiếu nại cũng đóng một vai trò then chốt đối với cả ba tòa án này.

Tuy nhiên, trong vụ án này, vấn đề thời hạn khiếu nại lại được xem xét từ góc độ của bị đơn. Vấn đề được tòa án các cấp xem xét là liệu bị đơn có khiếu nại về chất lượng hàng hóa được bán trong thời hạn khiếu nại hay không?

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định khiếu nại về chất lượng hàng hóa (hệ thống thiết bị lạnh) của bị đơn đã quá thời gian luật định là sáu tháng, tính từ ngày đưa thiết bị vào hoạt động, nên không xem xét. Trong khi đó, tòa giám đốc thẩm xét thấy bị đơn đã khiếu nại trong thời hạn luật định (ba tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hành theo thỏa thuận là 12 tháng kể từ ngày nghiệm thu bàn giao) nên việc tòa án sơ thẩm và phúc thẩm “không xem xét và giải quyết tranh chấp về chất lượng máy theo yêu cầu của bị đơn là không đúng quy định của pháp luật, tước của bị đơn quyền được yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình – đây là quyền cơ bản được quy định tại Điều 4 BLTTDS”; và đã quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm.

5. Từ các phán quyết của trọng tài và tòa án trên đây, có thể rút ra mấy nhận định như sau:

Thứ nhất, vai trò của thời hạn khiếu nại trong quan hệ hợp đồng thương mại đã được nhận biết, tuy nhiên, không chỉ nhiều chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng thương mại, mà ngay cả một số luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự cũng như một số thẩm phán cũng đã “bỏ qua” đặc thù quan trọng này của pháp luật thương mại.

Thứ hai, mặc dù theo quy định tại khoản 1 Điều 241 LTM 1997 thì “quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Trọng tài, Toà án có thẩm quyền”, nhưng tòa án không xem xét vấn đề này như là điều kiện để thụ lý vụ án như đối với vấn đề thời hiệu khởi kiện. Khi tòa án xác định nguyên đơn đã không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại và vì vậy mất quyền khởi kiện thì tòa án bác đơn kiện, thay vì đình chỉ vụ án như đối với trường hợp xét thấy hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 192, điểm a khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Điều đó cho thấy, tòa án không nhìn nhận nguyên đơn “mất quyền khởi kiện” mà chỉ mất quyền viện dẫn vi phạm của bị đơn để làm căn cứ cho yêu cầu của mình.

Thứ ba, quy định tại khoản 1 Điều 241 LTM 1997 cũng áp dụng đối với trường hợp bị đơn là bên bị vi phạm. Nếu bị đơn là bên bị vi phạm nhưng đã không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại thì mất quyền viện dẫn vi phạm của nguyên đơn, trong trường hợp đó tòa án, trọng tài chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ tương ứng. Như vậy, việc bên bị vi phạm không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại không chỉ dẫn đến hậu quả mất quyền khởi kiện và còn mất quyền viện dẫn vi phạm của bên vi phạm.

II. Thời hạn khiếu nại theo LTM 2005 và thực tiễn tài phán

1. Vấn đề thời hạn khiếu nại được quy định tại Điều 318 LTM 2005. Theo đó, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 237 của Luật này, thời hạn khiếu nại do các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thoả thuận thì thời hạn khiếu nại là (i) ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hóa; (ii) sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượng hàng hóa; trong trường hợp hàng hóa có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành; (iii) chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảo hành đối với khiếu nại về các vi phạm khác.

2. Như vậy, Điều 318 LTM 2005 không còn quy định “quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Trọng tài, Toà án có thẩm quyền” như Điều 241 LTM 1997 nữa. Điều đó lập tức làm phát sinh câu hỏi, vậy nếu bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại thì có “mất quyền khởi kiện” hay không và tại sao LTM 2005 lược bỏ quy định này?

3. Do các tài liệu lập pháp không thể hiện một cách cụ thể (15), nên chỉ có thể giả thiết một số quan điểm lập pháp về vấn đề này như sau (16):

Giả thiết thứ nhất: Vì các nhà làm LTM 2005 cho rằng, việc quy định thời hạn khiếu nại chỉ tạo ra một thủ tục “tiền tố tụng” không bắt buộc, nhằm tạo điều kiện để cho các bên có thể tự giải quyết các bất đồng, tranh chấp trước khi phải khởi kiện trước tòa án, trọng tài. Như vậy, một mặt, bên có quyền lợi bị vi phạm vẫn có thể khởi kiện ngay khi thời hạn khiếu nại vẫn còn mà không cần phải khiếu nại trước khi khởi kiện. Mặt khác, khi thời hạn khiếu nại đã hết mà trước đó bên có quyền lợi bị vi phạm không khiếu nại thì bên đó vẫn có quyền khởi kiện trước tòa án, trọng tài trong thời hiệu khởi kiện. Bởi vậy, cần phải bỏ quy định việc bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện nếu không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại như quy định tại khoản 1 Điều 241 LTM 1997.

Giả thiết thứ hai: Vì quy định như khoản 1 Điều 241 LTM 1997 là không chính xác, bởi vì, khi bên có quyền lợi bị vi phạm khởi kiện tại tòa án hoặc trọng tài, mặc dù trước đó đã không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại, thì tòa án, trọng tài vẫn thụ lý vụ án, chứ không trả lại đơn kiện như trường hợp hết thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều 168 BLTTDS (trước đây: khoản 2 Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế)(17). Tuy nhiên, tòa án, trọng tài sẽ phải bác yêu cầu của bên có quyền lợi bị vi phạm khi nhận xét thấy bên đó đã không thực hiện quyền khiếu nại trong thời hạn khiếu nại.

Giả thiết thứ ba: Cũng vì lý do như nêu tại giả thiết thứ hai, nhưng ngoài ra còn vì các nhà làm LTM 2005 cho rằng, nếu bên có quyền lợi bị vi phạm không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại thì coi như chấp nhận vi phạm của bên vi phạm, và mất quyền viện dẫn các vi phạm của bên vi phạm. Trong trường hợp này, bên có quyền lợi bị vi phạm vẫn có quyền khởi kiện nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Tòa án không trả lại đơn kiện như trường hợp hết thời hiệu khởi kiện, nhưng phải bác yêu cầu của nguyên đơn do nguyên đơn không còn căn cứ pháp luật cho yêu cầu của mình.

4. Có thể, chúng ta sẽ tìm được lời giải đáp xác đáng về vấn đề này trong LTM Việt Nam bằng cách đi tìm nguồn gốc cũng như hình thái của chế định khiếu nại trong pháp luật thương mại nước ngoài hay luật quốc tế mà pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng, cũng như hướng tới để đạt mục tiêu “việc xây dựng LTM tất yếu cũng phải phù hợp với…nguyên tắc, chuẩn mực của pháp luật, tập quán thương mại quốc tế, từ đó tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia vào các chế định chung của thế giới trong lĩnh vực thương mại” (18).

III. Khiếu nại trong pháp luật thương mại nước ngoài và quốc tế

1. Để truy tìm nguồn gốc của chế định khiếu nại trong pháp luật thương mại, có lẽ điều người ta nghĩ đến trước hết là Bộ luật Thương mại của Pháp và Bộ luật Thương mại của Đức. Bởi vì Pháp và Đức đều là các quốc gia có hệ thống luật thành văn và đều có các Bộ luật Dân sự bên cạnh Bộ luật Thương mại. Các Bộ luật Thương mại này đều được xem là luật của thương nhân, bao gồm luật về tổ chức của thương nhân và luật về giao dịch giữa các thương nhân (19).

Các Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại này đều quy về thời hiệu. Chế định thời hiệu có nguồn gốc từ luật La Mã. Luật La Mã hiểu thời hiệu là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó quyền yêu cầu chấm dứt hoặc được xác lập và qua đó phân biệt giữa thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ và thời hiệu xác lập quyền (20). Tuy nhiên, các Bộ luật Dân sự của Pháp và Đức đều không tiếp nhận khái niệm thời hiệu của Luật La Mã với nội hàm rộng như vậy. Thời hiệu theo các Bộ luật này là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó nghĩa vụ không chấm dứt, nhưng người có nghĩa vụ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ (21). Khác với thời hiệu khởi kiện theo Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại của Việt Nam, thời hiệu theo các Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại của Pháp và Đức không cản trở người có quyền khởi kiện khi thời hiệu đã chấm dứt (22). Tòa án các nước này không trả lại đơn kiện trong trường hợp thời hiệu đã hết như tòa án Việt Nam trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện. Thậm chí, tòa án các nước này cũng chỉ xem xét vấn đề thời hiệu khi một bên đương sự viện dẫn việc hết thời hiệu khởi kiện mà thôi (23). Tuy nhiên, tòa án sẽ bác đơn kiện nếu thời hiệu đã chấm dứt. Như vậy, khác với Việt Nam, ở Pháp và Đức vấn đề thời hiệu đã chấm dứt hay chưa cũng phải được xét xử khi có một bên đương sự viện dẫn việc thời hiệu chấm dứt.

2. Thời hiệu được quy định trong các Bộ luật Dân sự là rất dài hoặc tường đối dài. Thời hiệu thông thường theo Bộ luật Dân sự Đức là 3 năm, thời hiệu đối với các quyền yêu cầu liên quan đến bất động sản là 10 năm, bên cạnh đó còn có thời hiệu 30 năm đối với sáu nhóm quyền yêu cầu được quy định cụ thể (24). Bộ luật Dân sự Pháp cũng quy định các thời hiệu dài 10, 20 và 30 năm (25). Tuy nhiên, Bộ luật này cũng quy định một số thời hiệu đặc biệt, ngắn hơn (26). Chẳng hạn, thời hiệu quyền yêu cầu của thương nhân về việc thanh toán tiền bán hàng đối với người không phải là thương nhân chỉ là 02 năm.

Các thời hiệu tương đối dài đó không phải lúc nào cũng phù hợp để đạt mục tiêu của pháp luật thương mại là các tranh chấp giữa các bên cần phải được giải quyết một cách nhanh chóng. Bởi vậy, pháp luật thương mại đã quy định nhiều thời hiệu ngắn hơn, nhưng thời hiệu ngắn nhất cũng là một năm. Nên việc bổ sung chế định khiếu nại trong pháp luật thương mại tỏ ra là cần thiết. Nội hàm của chế định khiếu nại là người có quyền và lợi ích bị vi phạm phải khiếu nại với bên vi phạm trong một thời hạn nhất định, nếu hết thời hạn đó mà không khiếu nại thì coi như người bị vi phạm chấp nhận sự vi phạm. Thời hạn khiếu nại có thể là một “thời hạn hợp lý” hay thời hạn được tính bằng ngày, tháng, năm và thông thường ngắn hơn nhiều so với thời hiệu.

Tuy nhiên, chế định khiếu nại không áp dụng đối với mọi giao dịch thương mại. Bộ luật Thương mại của Đức chỉ quy định thời hạn khiếu nại đối với hoạt động mua bán hàng hóa. Theo Điều 377 Bộ luật này, trường hợp việc mua bán đối với hai bên đều là giao dịch thương mại, thì người mua phải kiểm tra hàng hóa sau khi được người bán giao hàng, trong chừng mực điều đó là cần thiết, và nếu phát hiện khiếm khuyết thì phải khiếu nại kịp thời cho người bán biết (thời hạn khiếu nại ở đây là “kịp thời”). Nếu người mua không khiếu nại thì được coi là chấp nhận hàng hóa, trừ phi đó là khiếm khuyết không thể phát hiện được khi kiểm tra. Nếu sau đó người mua còn phát hiện khiếm khuyết thì cũng phải khiếu nại kịp thời cho người bán, nếu không cũng được coi là chấp nhận hàng hóa. Như vậy, nếu bên mua không thực hiện khiếu nại, thì được coi như bên đó đã chấp nhận hàng hóa. Bên mua mất quyền viện dẫn vi phạm của bên bán. Tuy nhiên, trong trường hợp này cũng không ai cản trở bên mua khởi kiện bên bán, chỉ có điều việc khởi kiện sẽ không đem lại kết quả mong muốn.

Tương tự, Bộ luật Thương mại của Đức, Bộ luật Thương mại của pháp cũng có chế định khiếu nại, và không áp dụng cho mọi giao dịch thương mại, mà chỉ đối với một số giao dịch được quy định cụ thể. Trong hoạt động vận chuyển đường bộ và vận chuyển đường thủy (Điều L133 -5), “khi nhận vật chuyên chở, quyền yêu cầu đối với người vận chuyển đối với thiệt hại hoặc mất một phần vật đó chấm dứt nếu trong thời hạn 3 ngày, không kể ngày lễ, Tết, kể từ ngày nhận vật, người nhận không thông báo cho người vận chuyển... về việc từ chối nhận vật và lý do từ chối nhận vật” (Điều L133 -3). Trong hoạt động mua bán sản nghiệp thương mại, “bên bán có nghĩa vụ đảm bảo tính chính xác của các thông tin mà mình cung cấp theo quy định tại các điều 1644 và 1645 Bộ luật Dân sự, kể cả khi có thỏa thuận khác” (Điều L141 -3). “Quyền yêu cầu phát sinh theo quy định tại Điều 141-3 phải do bên mua thực hiện trong thời hạn 1 năm kể từ ngày tiếp nhận sản nghiệp thương mại“ (Điều 141-4).

3. Chế định khiếu nại trong LTM được tiếp nhận vào Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Điều 39 Công ước này quy định, người mua mất quyền viện dẫn (right to rely) đối với vi phạm hợp đồng về hàng hóa, nếu người mua không khiếu nại và không nêu chính xác vi phạm với người bán trong một thời hạn hợp lý sau khi người mua biết được vi phạm đó hoặc nhẽ ra phải biết được vi phạm đó. Trong mọi trường hợp, người mua mất quyền viện dẫn vi phạm của người bán, nếu người mua không khiếu nại chậm nhất trong thời hạn 2 năm sau khi hàng hóa được thực tế chuyển giao cho người mua, trừ phi thời hạn này không phù hợp với thời hạn bảo hành theo hợp đồng. Và theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Công ước này thì trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, người mua có thể yêu cầu giao hàng thay thế, nếu vi phạm hợp đồng là một vi phạm cơ bản và yêu cầu giao hàng thay thế được thực hiện cùng với khiếu nại theo Điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý sau khi đã khiếu nại. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Công ước này thì trường hợp hàng hóa không phù hợp hợp đồng, người mua có thể yêu cầu người bán khắc phục, trừ phi khi xem xét tới mọi hoàn cảnh điều đó tỏ ra không phù hợp. Yêu cầu khắc phục phải được thực hiện cùng với việc khiếu nại theo Điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý sau khi đã khiếu nại.

Như vậy, theo Công ước này việc không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại (trong trường hợp này là “thời hạn hợp lý”) dẫn đến hậu quả người mua mất quyền viện dẫn vi phạm hợp đồng của bên bán. Và hậu quả pháp lý đó hoàn toàn tương tự hậu quả pháp lý của việc không khiếu nại theo LTM của Đức và Pháp.

4. Các trình bày trên cho thấy, chế định khiếu nại và chế định thời hiệu là hai chế định độc lập với nhau. Thời hiệu chấm dứt không làm chấm dứt nghĩa vụ, nhưng làm phát sinh quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ và quyền viện dẫn thời hiệu đã chấm dứt của người có nghĩa vụ. Trong khi đó, thì việc không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại làm mất quyền viện dẫn của bên bị vi phạm đối với vi phạm của bên vi phạm, hay nói cách khác là vi phạm coi như được chấp nhận, và nếu bên vi phạm phản đối việc viện dẫn của bên bị vi phạm thì coi như không tồn tại vi phạm và không phát sinh nghĩa vụ. Như vậy, chế định khiếu nại nhằm đòi hỏi bên bị vi phạm phải thực hiện khiếu nại để bảo toàn quyền viện dẫn tới vi phạm của bên vi phạm. Và thời hạn khiếu nại trong các luật nói trên thường là “kịp thời”, “thời hạn hợp lý”, nếu là thời hạn tính theo ngày, tháng, năm thì cũng thường rất ngắn. Điều đó thể hiện đòi hỏi cao hơn của pháp luật thương mại đối với thương nhân vì lợi ích của hoạt động thương mại, đặc biệt trong hoạt động mua bán hàng hóa, vì hàng hóa được mua bán ở đây không nhằm mục đích tiêu dùng, nên thường chỉ là một khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa.

5. Có lẽ chế định khiếu nại trong LTM Việt Nam cũng nhằm thực hiện chức năng tương tự. Một bằng chứng là, mặc dù quy định chung về thời hạn khiếu nại tại Điều 318 LTM 2005 không trực tiếp quy định về hậu quả pháp lý của việc bỏ qua thời hạn khiếu nại, nhưng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 237 Luật này thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm nếu thương nhân đó không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn 14 ngày, kể từ ngày giao hàng cho người nhận (27).

Tuy nhiên, nếu chế định khiếu nại trong LTM Việt Nam là sự tiếp nhận luật nước ngoài và luật quốc tế thì đó là sự tiếp nhận không hoàn hảo. Chính vì vậy mà LTM 2005 đã sửa đổi quy định tương ứng của LTM 1997 về thời hạn khiếu nại. Nhưng cũng chính sửa đổi này lại tạo ra sự không rõ ràng về mặt ý nghĩa và gây khó khăn cho việc áp dụng.

IV. Chế định khiếu nại theo LTM 2005 cần áp dụng như thế nào?

1. Căn cứ thực tiễn tài phán như đã trình bày tại mục I, quy định “quá thời hạn khiếu nại, bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Trọng tài, Toà án có thẩm quyền” tại khoản 1 Điều 241 LTM 1997 đã không được các tòa án áp dụng đúng như câu chữ. Một mặt, trên thực tế không một tòa án nào trả lại đơn kiện do nguyên đơn đã mất quyền khởi kiện vì không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại. Mặt khác, tòa án cũng không thể trả lại đơn kiện vì không thuộc một trong các trường hợp trả lại đơn kiện theo pháp luật tố tụng (Điều 168 BLTTDS). Các tòa án hay trọng tài chỉ bác đơn kiện thông qua bản án hay quyết định trọng tài.

2. Việc LTM 2005 lược bỏ quy định này trong quy định tương ứng về thời hạn khiếu nại cũng có thể cho thấy các nhà làm luật đã nhận thức rằng quy định như vậy là bất hợp lý. Bởi vì quy định như khoản 1 Điều 241 LTM 1997, sẽ làm chế định khiếu nại có chức năng tương tự như chế định thời hiệu khởi kiện, nghĩa là đều tước quyền khởi kiện của bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm nếu bỏ qua thời hạn hay thời hiệu.

3. Nhưng quy định tại Điều 318 LTM 2005 lại chỉ thuần túy quy định về các thời hạn khiếu nại, mà không hề quy định về hậu quả của việc bỏ qua thời hạn khiếu nại. Do các tài liệu lập pháp không cho thấy rõ chủ ý của nhà lập pháp nên mới có các giả thiết trình bày tại mục II.3 về việc lược bỏ quy định về hậu quả như trong LTM 1997.

4. Trong đó, tỏ ra hợp lý hơn cả là giả thiết, theo đó các nhà làm LTM 2005 cho rằng, nếu bên có quyền lợi bị vi phạm không khiếu nại trong thời hạn khiếu nại thì coi như chấp nhận vi phạm của bên vi phạm, và mất quyền viện dẫn các vi phạm của bên vi phạm. Trong trường hợp này, bên có quyền lợi bị vi phạm vẫn có quyền khởi kiện nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Tòa án không trả lại đơn kiện như trường hợp hết thời hiệu khởi kiện, nhưng phải bác (bằng bản án) yêu cầu của bên bị vi phạm nếu bên vi phạm phản đối việc viện dẫn vi phạm. áp dụng pháp luật như vậy trước hết là phù hợp với lôgíc pháp lý, bên cạnh đó cũng phù hợp với chế định khiếu nại trong các Bộ luật Thương mại lớn kể trên, và với luật mua bán hàng hóa quốc tế (CISG). Như vậy, mặc dù quy định tại Điều 318 LTM 2005 về mặt kỹ thuật lập pháp là không hoàn hảo, nhưng hoàn toàn có thể được áp dụng theo ý nghĩa nêu trên.

(1) Điều 23 Pháp lệnh Trọng tài kinh tế năm 1990.

(2) Khoản 1 Điều 31 Pháp lệnh Thủ tục xét xử các vụ án kinh tế.

(3) Vào thời điểm này, do một thiếu sót về mặt kỹ thuật, Bộ luật Dân sự 1995 thậm chí không quy định thời hiệu khởi kiện chung cho các tranh chấp dân sự, mà chỉ quy định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về thừa kế (Điều 648) cũng như việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với một số trường hợp (Điều 169). Do đó, theo Thông tư liên ngành số 03/TTLN của TANDTC và VKSNDTC ngày 10/08/1996, thì “các hợp đồng dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 mà có vi phạm, thì bên bị vi phạm không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước Tòa án, nếu pháp luật không có quy định khác” (mục III.1.a). Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 cũng không quy định thời hiệu khởi kiện.

(4) Điều 1, khoản 2 Điều 5 và Điều 45 LTM 1997.

(5) Khoản 4 Điều 5 LTM 1997.

(6) Điều 3 LTM 1997 chỉ quy định: “Các hoạt động thương mại phải tuân theo các quy định của Luật này và các quy định pháp luật khác có liên quan”.

(7) LTM 1997 chỉ có một quy định duy nhất liên quan đến hợp đồng vô hiệu, đó là khoản 3 Điều 126, theo đó hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa chấm dứt trong trường hợp hợp đồng vô hiệu khi nội dung hợp đồng hoặc việc thực hiện hợp đồng trái với quy định của pháp luật. Xét từ bản chất của chế định hợp đồng vô hiệu thì quy định này là không chính xác, vì khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu thì nó được xem là không tồn tại chứ không “chấm dứt”.

(8) Điều 242 LTM 1997. Tuy nhiên, Luật này sử dụng thuật ngữ không chính xác là “thời hiệu tố tụng”. Bởi vậy, các tòa án, trọng tài khi căn cứ điều khoản này đều sử dụng thuật ngữ “thời hiệu khởi kiện”.

(9) Khoản 1 Điều 241 LTM 1997.

(10) Khoản 2 Điều 241 LTM 1997.

(11) Quy định về thời hạn khiếu nại làm phát sinh vấn đề: Liệu bên bị vi phạm có thể khởi kiện ngay trong thời hạn khiếu nại mà không cần phải thực hiện khiếu nại trước khi khởi kiện hay không? Về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, bài viết này không nhằm giải quyết vấn đề này.

(12) Xem: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp DANIDA, Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2007: Quyết định số 10, “Tranh chấp trong hợp đồng mua bán thiết bị”, tr.72-77.

(13) Trong vụ kiện này, Hội đồng trọng tài đã đề nghị UBTVQH giải thích về nội dung điểm c khoản 2 Điều 241 LTM 1997. Trên cơ sở yêu cầu đó, UBTVQH đã ban hành Nghị quyết số 746/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 28/01/2005 về việc giải thích điểm c khoản 2 Điều 241 LTM. Theo đó: “Đối với khiếu nại về vi phạm các nghĩa vụ khác trong việc thực hiện các hành vi thương mại thì thời hạn khiếu nại là ba tháng kể từ khi bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 170 của LTM. Như vậy, trừ khiếu nại về số lượng hàng hóa quy định tại điểm a khoản 2 Điều 241 và khiếu nại về quy cách, chất lượng hàng hóa quy định tại điểm b khoản 2 Điều 241 của LTM thì thời hạn khiếu nại đối với các vi phạm nghĩa vụ về thanh toán, thời hạn giao hàng và các vi phạm khác trong mua bán hàng hóa, đại lý mua bán hàng hóa, môi giới thương mại và trong các hành vi thương mại khác được qui định tại Điều 45 của LTM là ba tháng, kể từ khi bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 170 của LTM”.

(14) Xem Quyết định giám đốc thẩm số 07/2007/KDTM-GĐT ngày 07/8/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC tại: Tạp chí Tòa án nhân dân, số 13 kỳ I tháng 7/2008, tr. 45-48.

(15) Tờ trình của Chính phủ về Dự án LTM (sửa đổi) ngày 05/10/2004 cũng không đề cập vấn đề này trong Mục B.5 về nội dung cơ bản của Chương V “Chế tài trong thương mại và giải quyết tranh chấp trong thương mại”.

(16) Trong quá trình thu thập tư liệu, tác giả chưa tìm thấy một bản án hay phán quyết trọng tài nào có liên quan đến Điều 318 LTM 2005, nên chưa thể nêu quan điểm của tòa án hay trọng tài về vấn đề này.

(17) Mặc dù theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 168 BLTTDS, khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế thì việc „người khởi kiện không có quyền khởi kiện“ cũng là căn cứ để tòa án, trọng tài trả lại đơn kiện, nhưng thực tế tòa án, trọng tài chưa hề trả lại đơn kiện theo các quy định này bằng cách viện dẫn bên khởi kiện đã mất quyền khởi kiện do không thực hiện khiếu nại trong thời hạn khiếu nại theo quy định tại khoản 1 Điều 241 LTM 1997.

(18) Tờ trình của Chính phủ về Dự án LTM (sửa đổi) ngày 05/10/2004, mục II.5.

(19) Về sau luật về tổ chức thương nhân được tách dần ra khỏi các Bộ luật Thương mại này, hình thành nên Luật công ty.

(20) Luật La Mã không biết đến thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự như quy định tại khoản 3, 4 Điều 155 BLDS 2005 của Việt Nam.

(21) Xem: Palandt, Bình luận Bộ luật Dân sự (Beck’sche Kurzkommentare B#rgerliches Gesetzbuch), 68. Auflage, Verlag C.H.Beck, M#nchen 2008: #berblick von # 194. Xem thêm: Đỗ Văn Đại, Đỗ Văn Hữu, Hậu quả của hết thời hiệu khởi kiện trong lĩnh vực hợp đồng, Tạp chí NCLP, Hiến kế lập pháp số 3/2006 (70), tr. 17-19.

(22) Xem thêm nhận định tương tự trong: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp DANIDA, Cẩm nang hợp đồng thương mại, Hà Nội 2007, tr. 46: „Hầu hết pháp luật các nước không quy định thời hiệu khởi kiện, mà chỉ quy định thời hiệu. Điều đó có nghĩa là không ai bị mất quyền khởi kiện. Tuy nhiên, bên có nghĩa vụ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ khi hết thời hiệu“.

(23) Xem thêm: Đỗ Văn Đại, Đỗ Văn Hữu, tlđd.

(24) Điều 195-197 Bộ luật Dân sự Đức.

(25) Điều 2262 đến 2270-1 Bộ luật Dân sự Pháp.

(26) Điều 2271 đến 2281 Bộ luật Dân sự Pháp.

(26) Một bằng chứng cho thấy điều đó là, mặc dù quy định chung về thời hạn khiếu nại tại Điều 318 LTM 2005 không trực tiếp quy định về hậu quả pháp lý của việc bỏ qua thời hạn khiếu nại, nhưng theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 237 Luật này thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm nếu thương nhân đó không được thông báo về khiếu nại trong thời hạn 14 ngày, kể từ ngày giao hàng cho người nhận.

>> Xem thêm nội dung: Mẫu đơn kháng cáo vụ án hình sự, dân sự mới nhất

6. Bình luận từ việc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giải trí bị khiếu nại ?

Vụ việc: M là một trong những tên tuổi hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực giải trí tại thành phố Hồ Chí Minh. Gần đây, theo các thông tin được đưa trên các phương tiện truyền thông, sáu doanh nghiệp ngành điện ảnh đã nộp đơn đến Cục Quản lý cạnh tranh để khiếu nại M với lý do M đã có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể, sáu doanh nghiệp trên đã khiếu kiện M với các lý do như sau:

Thứ nhất, theo phân tích của các doanh nghiệp đứng đơn, hiện nay 90% các phim nhựa chiếu rạp là phim nước ngoài, được các doanh nghiệp nhập khẩu từ các hãng sản xuất phim nước ngoài. Với mỗi phim, hãng sản xuất phim nước ngoài ký hợp đồng với một doanh nghiệp để doanh nghiệp này nhập khẩu và phân phối lại phim cho các doanh nghiệp khác trong nước. Các doanh nghiệp này cũng thống kê rằng, Megastar thường chiếm khoảng 50% số phim nhập khẩu mỗi năm. Cụ thể, tổng phim nhập khẩu trong năm 2009 là 106 phim, riêng Megastar nhập 50 phim. Bên khiếu nại cũng cho rằng, doanh thu từ hoạt động phân phối phim nhựa nhập khẩu của Megastar trong thời gian qua dao động từ 34% đến 75% tổng doanh thu trên thị trường phân phối phim nhựa nhập khẩu tại Việt Nam

Thứ hai, bên khiếu nại cho rằng, Megastar đã vi phạm Luật Cạnh tranh khi có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cụ thể là việc Megastar áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng khi áp dụng chính sách định phí thuê phim tối thiểu trên mỗi người xem. Hiểu nôm na, với mỗi phim mà Megastar phân phối cho các doanh nghiệp khác chiếu, Megastar thu 25.000 đồng trên mỗi vé mà các doanh nghiệp này bán ra. Bên khiếu nại cho rằng, cách thu này của Megastar (áp dụng từ đầu tháng 6/2009) đã khiến các doanh nghiệp phải nâng giá vé để tránh lỗ và kết quả là khán giả bị thiệt hại do giá vé tăng.

Thứ ba, ngoài ra, bên khiếu nại cũng cho rằng Megastar đã áp đặt điều kiện trong quan hệ giữa các bên. Cụ thể, Megastar buộc các doanh nghiệp này phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê. Ví dụ, muốn có phim Transformers (một phim thuộc dạng “bom tấn”, hút khách) thì Công ty Cổ phần phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim Ice Age (là một phim hoạt hình).

Bên khiếu nại còn nêu việc Megastar đã buộc các doanh nghiệp này phải chiếu những phim do Megastar phân phối tại những phòng chiếu do Megastar chỉ định. Hành vi này bị bên khiếu nại cho là Megastar đã áp đặt điều kiện cho các doanh nghiệp.

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, nhà ở ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

Bình luận:

1. Thị trường liên quan

Một vấn đề quan trọng trong xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh là xác định thị trường liên quan. Theo đó, thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lí liên quan. Cụ thể:

a)Thị trường sản phẩm liên quan

Yếu tố đầu tiên khi xử lý vụ việc này là xác định thị trường sản phẩm liên quan. Theo quy định của Luật Cạnh tranh, thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả. Vậy thị trường sản phẩm liên quan trong trường hợp này là gì? Đó là thị trường chiếu phim rạp hay chỉ giới hạn trong việc nhập khẩu và phân phối các phim của nước ngoài?

Vấn đề các bên đang khiếu kiện là giá phân phối phim chiếu lại và các vấn đề có liên quan. Về bản chất, đây là các khiếu kiện liên quan trong quan hệ phân phối. Do đó, thị trường sản phẩm được xác định là thị trường phân phối các phim nước ngoài để chiếu rạp tại Việt Nam.

b)Thị trường địa lý liên quan

Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận.

Như đã phân tích, thị trường sản phẩm là thị trường phân phối phim chiếu lại. Do đó, thị trường địa lý được xác định sẽ là trên phạm vi toàn quốc. Vì việc phân phối của Megastar được áp dụng trên phạm vi toàn quốc.

2. Vị trí thống lĩnh thị trường

Về nguyên tắc, một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp này có khả năng tác động lớn đến cạnh tranh trên thị trường. Theo qui định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, có hai cách để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan, hoặc doanh nghiệp tuy không có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan nhưng doanh nghiệp này có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể[1].

Từ quy định này, có thể xác định một doanh nghiệp khi đã có thị phần từ trên 30% trên thị trường liên quan thì doanh nghiệp này đương nhiên có vị trí thống lĩnh mà không cần phải xem xét đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp này.

Luật cạnh tranh cũng đã xác định: Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm[2]

Con số 30% trên có thể là 30% tổng số mua vào hoặc 30% tổng số bán ra. Lập luận của các bên khi khiếu nại Megastar đã khẳng định, Megastar là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường xuất phát từ chỗ 90% các phim nhựa chiếu rạp là phim nước ngoài, được các doanh nghiệp nhập khẩu từ các hãng sản xuất phim nước ngoài. Với mỗi phim, hãng sản xuất phim nước ngoài ký hợp đồng với một doanh nghiệp để doanh nghiệp này nhập khẩu và phân phối lại phim cho các doanh nghiệp khác trong nước. Các doanh nghiệp này cũng thống kê rằng Megastar thường chiếm khoảng 50% số phim nhập khẩu. Cụ thể, tổng phim nhập khẩu trong năm 2009 là 106 phim, trong đó, riêng Megastar đã nhập tới 50 phim.

Tuy nhiên, để khẳng định Megastar là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thì cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh phải xác định doanh số mua vào của Megastar chiếm từ 30% trở lên tổng doanh số mà tất cả các nhà nhập khẩu phim của Việt Nam bỏ ra để nhập khẩu phim. Còn nếu chỉ căn cứ vào số lượng phim nhập khẩu của Megastar thì chưa đủ cơ sở để kết luận Megastar chiếm vị trí thống lĩnh hay chưa. Câu trả lời còn phải chờ kết luận từ phía cơ quan quản lý cạnh tranh. Do vậy, những phân tích tiếp sau đây chỉ có ý nghĩa khi xác định được Megastar là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam trong lĩnh vực phân phối phim chiếu lại tại Việt nam.

3. Hành vi áp đặt giá bán bất hợp lí

Mỗi phim mà Megastar phân phối cho các doanh nghiệp khác chiếu, Megastar thu 25.000 đồng trên mỗi vé mà các doanh nghiệp này bán ra. Vậy hành vi này là một hành vi kinh doanh bình thường hay là hành vi “áp đặt giá bán bất hợp lí” vi phạm Luật Cạnh tranh như sáu công ty trên khiếu nại?

Theo Nghị định 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ (NĐ 116) hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh thì hành vi áp đặt giá bán hàng hóa, dịch vụ được coi là bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng nếu cầu về hàng hoá, dịch vụ không tăng đột biến tới mức vượt quá công suất thiết kế hoặc năng lực sản xuất của doanh nghiệp và thỏa mãn hai điều kiện sau đây:

a) Giá bán lẻ trung bình tại cùng thị trường liên quan trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp được đặt ra tăng một lần vượt quá 5%; hoặc tăng nhiều lần với tổng mức tăng vượt quá 5% so với giá đã bán trước khoảng thời gian tối thiểu đó;

b) Không có biến động bất thường làm tăng giá thành sản xuất của hàng hóa, dịch vụ đó vượt quá 5% trong thời gian tối thiểu 60 ngày liên tiếp trước khi bắt đầu tăng giá[3].

Ranh giới để phân định hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh và hành vi kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận hợp pháp của doanh nghiệp trong trường hợp này là rất mong manh. Điều này xuất phát từ đặc thù của việc kinh doanh trong lĩnh vực phim ảnh. Về bản chất, người xem phim có nhu cầu xem ngay khi phim vừa mới phát hành (đặc biệt là những phim ăn khách, còn gọi là phim “bom tấn”). Theo quy luật cung cầu, trong trường hợp này giá của phim sẽ cao. Và còn có nhiều cách để tính giá khi nhập khẩu và phân phối lại cho các công ty khác chiếu.

Theo hướng dẫn của NĐ 116, áp đặt giá bán bất hợp lý hay không thường được nhìn trong một tiến trình. Theo đó, nếu nhu cầu không tăng đột biến mà giá bán của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường áp đặt tăng quá 5% theo cách được hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 27 Nghị định 116 thì có cơ sở để kết luận là hành vi áp đặt giá bất hợp lý. Một điều quan trọng là thời gian khảo sát kéo dài 60 ngày. Trong khi đó, một bộ phim được nhập khẩu về thường sẽ được khởi chiếu ngay. Ít khi nào bộ phim được chiếu liên tục trong một thời gian dài. Do vậy, một cách tất yếu, muốn thu hồi khoản tiền bỏ ra cộng với lợi nhuận, nhà phân phối phải tính toán như thế nào đó để đạt được mục tiêu trên trong một khoản thời gian ngắn.

Về nguyên tắc, luật không cấm việc tính phí trên mỗi vé bán ra. Do đó, dưới góc độ luật học thì việc tính 25.000 đồng trên mỗi vé bán là chuyện bình thường. Với những gì vừa phân tích, khó có cơ sở để khẳng định Megastar có hành vi áp đặt giá giá bán bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng.

4. Áp đặt điều kiện giao kết hợp đồng

Hành vi áp đặt các điều kiện giao kết hợp đồng được hiểu là hành bắt buộc các đối tác phải chấp thuận các điều kiện do doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đưa ra thì hợp đồng giữa hai bên mới được giao kết.

Theo khiếu kiện của các bên thì Megastar đã có hành vi buộc các doanh nghiệp phải thuê thêm phim khác kèm theo phim muốn thuê. Ví dụ, muốn có phim Transformers (một phim thuộc dạng “bom tấn”, hút khách) thì Công ty Cổ phần Phim Thiên Ngân (Galaxy) phải lấy kèm phim Ice Age (là một phim hoạt hình)

Nếu việc thuê kèm phim khác trở thành một điều kiện bắt buộc khi giao kết hợp đồng, có nghĩa là bên khởi kiện muốn thuê phim Transformers mà không thuê thêm phim Ice Age thì sẽ bị từ chối cho thuê thì hành vi này không phải là hành vi áp đặt các điều kiện khi giao kết hợp đồng mà thực chất đây là hành vi buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.

Kết luận

Đã 6 năm kể từ khi luật cạnh tranh ra đời. Nhưng trên thực tế, số vụ việc mà cục quản lí cạnh tranh và hội đồng cạnh tranh xử lí quá ít ỏi (bao gồm cả hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh). Điều đó không có nghĩa là các hành vi vi phạm luật cạnh tranh (đặc biệt là các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường) không xảy ra mà bởi tâm lí e ngại của các bên có liên quan trong việc cầu viện đến “vòng cương toả” của luật cạnh tranh. Kết luận cuối cùng vẫn còn phải chờ kết luận từ phía Hội đồng xử lí vụ việc nhưng trước mắt với hành vi khiếu kiện này là một động thái cho thấy các doanh nghiệp dường như đã bắt đầu quan tâm hơn đến luật cạnh tranh trong quá trình hoạt động của mình.

[1] Khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh

[2] Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh

[3] Khoản 2 Điều 27 Nghị định 116/2005/NĐ-CP

>> Tham khảo thêm nội dung: Thời hạn giải quyết khiếu nại ? Soạn đơn khiếu nại như thế nào ?