Bây giờ ngôi nhà ở quê bỏ hoang, ba mẹ con cô đấy đi làm ăn xa. Đất ghi tên chú theo luật thì chỉ chú mới có quyền, ba mẹ con cô chưa có nhà cửa bây giờ muốn sử dụng mảnh đất đó để làm nơi đi lại nhưng tại đất ko mang tên mình còn các anh chị nhà chồng thì luôn giữ, hiện giữ luôn sổ đỏ đất. Một thân cô nuôi hai em ko có sự hỗ trợ nào từ chồng và gia đình chồng bây giờ hai đứa con cô muốn lấy mảnh đất đó để sử dụng không muốn để hoang như vậy mãi. Cô chú mới ly thân chưa ly dị.

Xin hỏi luật sư bây giờ cô muốn ly dị để 1 là tìm chú về để giải quyết miếng đất để ba mẹ con cô ko còn nghĩ gì về nó nữa. 2 là chú không về thì ba mẹ con cô có được mảnh đất đấy không ? Xin luật sư chỉ cách để ba mẹ con đc sử dụng và lấy được mảnh đất đó ?

Cảm ơn luật sư trước ạ!

Luật sư trả lời:

Do căn nà là của bố mẹ mua cho người chồng trước khi kết hôn và do người chồng này đứng tên trước thời điểm kết hôn. Căn cứ tại Điều 43 Luật hôn nhân và Gia đình 2014:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Như vậy, căn nhà này được xác định là tài sản riêng của người chồng do được hình thành trước hôn nhân.

Do cô và chú của bạn đã ly thân nhiều năm nhưng trên giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân và mọi quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại.

Theo như tình huống do người chồng đã đi biệt tích hơn chục năm và không có một thông tin gì thì người vợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố đã chết.

Căn cứ vào điều 71 Bộ luật dân sự 2015:

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

2. Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Khi có quyết định của Toàn án tuyên bố người chồng là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người chồng được giải quyết như đối với người đã chết. Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản người đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế. Khi đó về tài sản của người chồng này là quyền sở hữu đối với mảnh đất và căn nhà này sẽ được thừa kế theo pháp luật.

Căn cứ vào Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hàng thừa kế bao gồm:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Như vậy, Người vợ và hai người con được hưởng di sản mà người chồng này khi được tòa án tuyên bố là đã mất. Phần di sản của mỗi người được hưởng là như nhau.

Để nhận di sản thừa kế này, cần tiến hành công chứng văn bản khai nhận di sản, theo khoản 2 Điều 57 Luật công chứng 2014:

Điều 57. Công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản

2. Trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

Trường hợp thừa kế theo pháp luật, thì trong hồ sơ yêu cầu công chứng phải có giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Nộp hồ sơ tại tổ chức hành nghề công chứng.Thành phần hồ sơ:

- Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch.

- Dự thảo văn bản khai nhận di sản (trường hợp tự soạn thảo);

- Bản sao giấy tờ tuỳ thân;

- Giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

- Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Giấy chứng tử (bản chính kèm bản sao) của người để lại di sản, giấy báo tử, bản án tuyên bố đã chết (bản chính kèm bản sao).

Khi nộp bản sao thì phải xuất trình bản chính để đối chiếu. Sau đó làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê