1. So sánh thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của tòa theo luật đất đai 2003 và 2013 ?

Thưa luật sư, anh (chị) cho em hỏi thẩm quyền của toà án trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Luật đất đai 2003 khác gì với thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa án ở Luật đất đai 2013? Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Theo quy định của Điều 136 của Luật Đất đai năm 2003: Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết.

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 được giải quyết như sau:

+ Trường hợp Chủ tịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

+ Trường hợp Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

Như vậy, theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án chỉ giới hạn trong phạm vi các tranh chấp mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003. Đối với người dân, khi có tranh chấp về đất đai mà không có giấy chứng nhận và hoặc các giấy tờ theo quy định thì cũng không có quyền lựa chọn cơ quan giải quyết nào khác ngoài UBND và cơ quan quản lý nhà nước về đất đai là Sở Tài nguyên môi trường, Phòng Tài nguyên và môi trường.

Thực tế cho thấy các tranh chấp về đất đai khá phức tạp, đặc biệt là với các tranh chấp mà đương sự không có giấy chứng nhận. Do đó, việc giải quyết tranh chấp tại cơ quan hành chính còn nhiều bất cập do khối lượng công việc lớn, trình độ pháp luật của cán bộ tham mưu, giải quyết còn hạn chế. Đây có thể coi là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài về đất đai trong nhiều năm qua.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai có một số điểm mới sau:

Mở rộng thẩm quyền của Tòa án:

Theo quy định tại khoản 1 điều 203 Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 203: Tranh chấp đất đai mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tài Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được chọn yêu cầu UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Như vậy, so với quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 (về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án), thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 được mở rộng hơn nhiều. Đối với các tranh chấp mà đương sự không có giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tài Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, ngoài cơ quan quản lý hành chính, người dân còn có quyền lựa chọn Tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp. Quy định nào sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong giải quyết tranh chấp, giảm áp lực cho cơ quan hành chính nhà nước và góp phần hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 203 và Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 thì đối với quyết định giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; quyết định hành chính, hành vi hành vi hành chính về quản lý đất đai quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 mà đương sự không đồng ý thì họ có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Cụ thể, Khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

- Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

- Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Như vậy, có thể thấy điểm khác biệt lớn nhất trong quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong Luật Đất đai năm 2013Luật Đất đai năm 2003 là ở phạm vi thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Luật mới đã có sự mở rộng hơn, đem lại nhiều sự lựa chọn cho người dân khi có tranh chấp về đất đai tạo thuận lợi hơn cho họ vì giờ đây sẽ không chỉ giới hạn là cơ quan quản lý hành chính mà còn có quyền lựa chọn cơ quan Tòa án để giải quyết tranh chấp.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn tranh chấp đất đai: Mua bán nhà đất bằng giấy tờ viết tay?

2. Trình tự giải quyết tranh chấp đất đai?

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ tôi có 2 thửa đất chung đường đi (2m) với ông H thể hiện trong sổ chính quy cấp năm 2001. Chiều rộng hai thửa đất mẹ tôi 34m, đất ông H rộng thửa trước 36m, thửa sau 39m sau khi kiểm tra đất, mẹ tôi phát hiện bị thiếu 1m phía sau còn 33m. Đất ông H thực tế đo trước 38m còn đòi thêm 2m đường đi vì ông nói đất ông 40m. Thửa sau 42m.

Việc tranh chấp này đã được UBND xã hòa giải không thành. Mẹ tôi gửi đơn lên tòa án cuối năm 2014 đến nay vẫn chưa được giải quyết. Xin hỏi luật sư, ông H có thuê luật sư và ủy quyền luôn. Sau khi được tòa án mời hòa giải. Luật sư ông H có ý muốn trả lại phần đất đã lấn chiếm cho mẹ tôi, nếu mẹ tôi đồng ý sẽ rút khởi kiện thửa trước. Luật sư ủy quyền nói thế có phù hợp với luật pháp không vì ông H có hai thửa đều dư đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu mẹ tôi đồng ý thì mẹ tôi sẽ có quyền lợi gì, nếu mẹ tôi không đồng ý cương quyết yêu cầu tòa án xét xử thì mẹ tôi được quyền lợi gì? Rất mong nhận được sư tư vấn của luật sư. Trân trọng cảm ơn.

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 22 Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định về phạm vi hành nghề luật sư:

"2. Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật."

Dẫn chiếu đến Điều 75 và Điều 76 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì luật sư được phép tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, luật sư cũng có quyền thương lượng, thỏa thuận về việc trả lại đất ông H đã lấn chiếm của mẹ bạn cũng như thỏa thuận để mẹ bạn rút lại đơn khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vì thủ tục hòa giải giữa các đương sự trong vụ án dân sự là bắt buộc, kể cả luật sư không thỏa thuận trước với mẹ bạn thì sau này ra Tòa án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án của mẹ bạn cũng tiến hành hòa giải giữa các bên theo thủ tục tố tụng dân sự tại Chương XII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp, mẹ bạn có đầy đủ giấy tờ chứng minh mẹ bạn sử dụng đất đúng quy định pháp luật, đúng diện tích đất đã được thể hiện trong sổ chính quy cấp năm 2001, còn diện tích ông H sử dụng nhiều hơn so với diện tích trong sổ chính quy. Chính vì lẽ đó, ông H nhận thấy hành vi của mình là sai nên mới yêu cầu luật sư thương lượng, thỏa thuận giữa các bên để có lợi cho ông H, có thể sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn, chiếm đất theo Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Lúc này, nếu mẹ bạn không muốn tiến hành thủ tục khởi kiện, tranh chấp đất đai tại Tòa án, tốn chi phí và tốn thời gian thì mẹ bạn nên đồng ý việc thương lượng theo đề xuất của luật sư để hai bên cùng có lợi. Nhưng khi thỏa thuận giữa các bên thì mẹ bạn cần yêu cầu cả hai bên viết văn bản cam kết hoặc yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho mẹ bạn về sau, tránh trường hợp ông H thay đổi, "lật lọng" cố tình tiếp tục muốn tranh chấp với mẹ bạn vì Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

"Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

3. Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 của Bộ luật này mà các đương sự có mặt thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải đồng ý bằng văn bản."

3. Xin tư vấn về tranh chấp đất đai?

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 1985 – 1986, thực hiện Nghị quyết 299 Hội đồng nhân dân xã An Mỹ và được sự nhất trí của UBND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình về việc dồn dân từ cánh đồng Ma La về làng, trong đó có hai gia đình là: gia đình ông A và gia đình bố tôi - ông B, mỗi gia đình được cấp 03 suất đất, mỗi suất 240 m2, gia đình tôi có 02 anh trai chồng là T và H có hộ khẩu riêng nên thửa đất đó mang tên chính mình. Còn chồng tôi là con trai út có hộ khẩu chung với bố tôi, nên được cấp chung với bố 240 m2 mang tên ông A – bố đứng chủ hộ, thửa số 72/240 m2, anh T thửa số 71/240 m2; anh H thửa số 73/240 m2.

Vì điều kiện kinh tế lúc bấy giờ gia đình tôi quá nghèo cơm không đủ ăn, vợ chồng tôi theo chị gái tôi vào Đắk Lắk làm ăn (1995), gửi lại thửa đất 72/240 m2 nhờ anh trai chồng tôi là anh T trông coi hộ. Sau một thời gian, nay vợ chồng tôi trở về quê muốn làm nhà trên mảnh đất 72/240 m2 được cấp (như tôi đã trình bày ở trên) để sống cùng anh em.

Tôi đến UBND xã An Mỹ hỏi về việc đó thì được biết năm 2004 (sau khi bố chồng tôi mất) do thửa đất của chúng tôi không sử dụng để trống, chúng tôi lại không có mặt ở quê nên anh T đã đứng ra nhận là của mình và làm sổ đỏ xác lập quyền sở hữu với mảnh đất đó (cụ thể là nhập vào thửa 71/240 m2 liền kề của anh ấy). Sự việc này tôi đã đề nghị lên UBND và ban quản lý tài nguyên môi trường xã An Mỹ và đã tiến hành hòa giải 03 lần. Trong cuộc hòa giải gần đây nhất vào ngày 08/11/2017 có mặt đại diện đầy đủ các ban ngành trong khối UBND xã, có cả đại diện bí thư chi bộ, trưởng thôn, anh T vẫn thừa nhận vợ chồng tôi gửi đất, anh ấy có nhận trông coi hộ, thừa nhận thửa đất số 72/240 m2 cấp cho bố chồng tôi. Gia đình chúng tôi đã đề nghị rất nhiều lần, hơn 01 năm từ bắc vào nam đòi đất. Xin luật sư tư vấn cho gia đình chúng tôi, cách giải quyết nhanh nhất, trong thời gian sớm, vì đi lại quá tốn kém, cán bộ xã và huyện cứ cố tình kéo dài thời gian, đùn đẩy trách nhiệm? Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 thì vợ chồng bạn có quyền yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất. Trên thực tế, gia đình bạn đã rất nhiều lần yêu cầu chính quyền địa phương tiến hành hòa giải nhưng không được, thậm chí đã hơn 01 năm nay nhưng cán bộ xã cũng như cán bộ huyện đều cố tình kéo dài thời gian, đùn đẩy trách nhiệm không giải quyết vụ việc cho gia đình bạn. Lúc này, gia đình bạn có quyền yêu cầu cán bộ địa chính xã lập biên bản hòa giải không thành để yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai tới cấp có thẩm quyền khác vì thời gian hòa giải tranh chấp đất đai ở Ủy ban nhân dân xã là không quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai.

Sau khi có biên bản hòa giải không thành bạn có thể lựa chọn một trong các cách sau để yêu cầu giải quyết vụ việc của vợ chồng bạn:

Cách 1: Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Cách 2: Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Bên cạnh đó, nếu vợ chồng bạn nhận thấy việc cán bộ xã, cán bộ huyện cố tình không giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai cho gia đình bạn thì bạn hoặc chồng bạn có quyền nộp đơn Khiếu nại hành vi hành chính của các bộ xã, cán bộ huyện tới Chủ tịch UBND cấp xã, cấp huyện theo đúng trình tự, thủ tục khiếu nại được quy định tại Chương 2 Luật Khiếu nại năm 2011 hoặc bạn có thể nộp đơn Khiếu kiện tới Tòa án nhân dân cấp huyện để yêu cầu xử lý hành vi vi phạm của cán bộ thuộc cơ quan quản lý đất đai.

4. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai?

Kính gửi công ty luật Minh Khuê! Tôi tên là P đến từ HD. Hiện tại, gia đình tôi đang có một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất và gia đình tôi chưa có hướng giải quyết như sau: Năm 2004 gia đình tôi có mua đất ruộng của bà con trong thôn, tổng diện tích là 2800m2 và mua tới 2013 là hết hạn. Năm 2007, Nguyễn Văn Đ người cùng thôn muốn mua lại số diện tích đó để sử dụng, gia đình tôi đã đồng ý và làm giấy chuyển nhượng cho Đ tới hết năm 2013, Sau khi hết hạn đầu năm 2014, gia đình tôi lại mua lại số diện tích đất của người dân (mua vĩnh viễn ).

Nhưng Đ không trả lại số ruộng khi đã hết hạn. Ngày 01/01/2014 gia đình tôi làm đơn đề nghị ủy ban nhân dân xã X giải quyết nhưng tới nay đã hơn bốn năm nhưng UBND vẫn không giải quyết và khi bố tôi lên gặp thì bảo chờ một thời gian nữa, vì thế bây giờ gia đình tôi không biết có nên kiện ra tòa án dân sự không? hay lại kiện lên UBND huyện? Mong công ty xem xét và hướng dẫn cách giải quyết cho gia đình tôi. Tôi xin cảm ơn.

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Luật sư tư vấn và hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Trả lời:

Theo Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thì tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, theo quy định của pháp luật thì trước tiên bạn phải được thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã, nếu không thành thì sẽ được giải quyết theo khoản 1, 2 Điều 203 Luật đất đai 2013. Tức nếu bạn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 thì sẽ do TAND cấp quận/huyện nơi có đất để giải quyết tranh chấp; nếu bạn không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013 đất theo quy định thì lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết: Nộp đơn tại UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại TAND.

>> Tham khảo ngay: Viết đơn khởi kiện tranh chấp đất đai theo quy định của luật mới ?

5. Thẩm quyền của chính quyền xã trong giải quyết tranh chấp đất đai

Thưa luật sư, mong được luật sư tư vấn: Bố mẹ tôi được ông bà nội tôi cho mảnh đất 70m2 (là mảnh đất cho thêm). Gia đình tôi sử dụng từ đó tới nay cũng gần 20 năm và chưa làm sổ đỏ. Trong suốt quá trình sử dụng không hề xảy ra tranh chấp.

Nhưng tới năm 2017 sau khi ông nội tôi mất thì gia đình bác cả (anh trai bố tôi) ép bà nội tôi đòi đất (mảnh đất này trước kia ông bà tôi cho miệng). Khi kiện ra xã thì xã tuyên bố là nhà tôi phải trả mảnh đất 70m2 cho bà tôi. Sau một tháng không tự tháo dỡ công trình trên đó thì bên phía bà tôi có quyền đập phá, nhưng nhà tôi phản đối, không đồng ý với cách giải quyết của UBND xã. Gia đình tôi có ý định sẽ kiện lên trên thì xã bảo là ở xã chỉ xử thế còn thích kiện đi đâu thì kiện. Một tháng sau nhà bác cả cho người đập hết công trình nhà tôi trên mảnh đất 70m2.

Luật sư cho tôi hỏi là xã làm như thế là đúng hay sai? Nhà tôi có phải trả lại mảnh đất đó hay không? Tài sản xây trên diện tích đất đó bị nhà bác tôi đập phá thì gia đình tôi có thể kiện đòi đền bù hay không?

Chân thành cảm ơn luật sư rất nhiều.

Thẩm quyền của chính quyền xã trong giải quyết tranh chấp đất đai

Hướng dẫn thủ tục hòa giải khi xảy ra tranh chấp đất đai

Trả lời:

5.1. Về vấn đề tranh chấp đất đai giữa bác cả và bố bạn

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì gia đình bạn được ông nội cho mảnh đất 70m2, đã sử dụng được gần 20 năm. Tuy nhiên, do việc ông nội tặng đất cho bạn không được ghi nhận bằng văn bản và gia đình bạn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho nên, về mặt bản chất phần đất này vẫn thuộc sở hữu của ông nội bạn. Theo đó, nếu sau khi ông bạn mất mà không để lại di chúc thì phần đất của ông nội sẽ được coi là di sản thừa kế và được chia cho những người thuộc hàng thừa kế theo quy định tại điều 651 Bộ luật dân sự 2015. Cụ thể:

"Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

..."

Theo quy định trên thì những người được hưởng thừa kế đối với phần di sản mà ông bạn để lại bao gồm bà nội và các con của ông, mỗi người được hưởng một phần bằng nhau. Do đó, việc bác bạn yêu cầu phân chia mảnh đất mà gia đình bạn đang sử dụng là hợp lý và không trái quy định của pháp luật.

Nếu gia đình bạn không đồng ý với yêu cầu của bác bạn (các bên không tự thỏa thuận được với nhau) thì có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai ra Ủy ban nhân dân xã nơi có đất để yêu cầu giải quyết theo khoản 2 Điều 202 Luật đất đai 2013:

"Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải ".

Tuy nhiên, theo quy định của Luật đất đai thì Ủy ban nhân dân xã chỉ có vai trò hòa giải giữa các bên, quyết định của Ủy ban nhân dân không mang tính bắt buộc, do đó, nếu sau khi hòa giải ở địa phương mà gia đình bạn không đồng ý với quyết định được đưa ra thì bạn có quyền gửi đơn lên cơ quan cấp trên là Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi có đất hoặc khởi kiện trực tiếp lên Tòa án nhân dân quận, huyện nơi có đất để được yêu cầu giải quyết theo khoản 2 Điều 203 Luật đất đai 2013:

"2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;"

5.2. Về vấn đề bác cả của bạn tự ý cho người đập phá các công trình của gia đình bạn

Như trên đã trình bày thì gia đình bạn chưa có quyền sở hữu đối với phần đất ông nội tặng cho. Tuy nhiên, những công trình được xây dựng trên phần đất này do gia đình bạn xây dựng, nên nó vẫn được coi là tài sản của gia đình bạn, việc gia đình bạn sử dụng mảnh đất 70m2 ông bạn cho để lại cũng không trái quy định pháp luật, không phải là hành vi lấn, chiếm, sử dụng đất trái phép, hơn 20 năm gia đình bạn sử dụng không có tranh chấp gì. Chính vì vậy, việc tháo dỡ những công trình trên đất này phải được gia đình bạn cho phép. Nếu bác bạn tự ý cho người tháo dỡ những công trình này thì phải bồi thường giá trị tài sản tương ứng với công trình đã bị tháo dỡ. Cụ thể điều 585 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định người nào xâm phạm đến tài sản của người khác thì phải bồi thường theo nguyên tắc hai bên thỏa thuận với nhau trên cơ sở thiệt hại thực tế xảy ra:

"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Mức bồi thường thiệt hại về tài sản được quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm những khoản sau: Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; Thiệt hại khác do luật quy định.

>> Tham khảo ngay: Khởi kiện tranh chấp đất đai giữa các hộ gia đình, trình tự thủ tục được quy định như thế nào?

6. Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai?

Xin luật sư cho tôi hỏi vấn đề sau: Gia đình tôi có sử dụng thửa đất từ năm 1982 và được nhà nước cấp sổ bìa đỏ có diện tích cụ thể được thể hiện trong bản đồ của Sở Tài nguyên môi trường và UBND huyện. Từ năm 1996, gia đình bên cạnh đã lấn chiếm diện tích đất của gia đình tôi, khi tôi đề nghị UBND xã giải quyết hòa giải, UBND xã giải quyết theo giấy tờ của gia đình hàng xóm nhà tôi gồm: 01 bản đồ tự vẽ ra bằng tay có Chủ tịch UBND xã xác nhận. Vậy địa chính xã giải quyết hòa giải như vậy đúng hay sai? Chủ tịch UBND xã có quyền xác nhận vào bản đồ vẽ ra bằng tay không? Bản đồ đó gia đình tôi không hề biết nó có từ bao giờ, chỉ có chữ ký của gia đình họ và UBND xã xác nhận. Chủ tịch xã xác nhận như vậy, gia đình hàng xóm sử dụng giấy tờ đấy vi pham vào điều luật nào? Xin cảm ơn!

Xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai ?

Trả lời:

Căn cứ Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 và Điểm a Khoản 1 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai quy định như sau:

"Điều 88. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai
1. Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;.."

Như vậy, theo quy định pháp luật thì UBND xã sẽ phải tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai và việc hòa giải này phải dựa trên toàn bộ những căn cứ mà các bên đưa ra, đồng thời phải tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ,... do đó nếu bạn nhận thấy rằng UBND xã có hành vi trái quy định pháp luật, bạn có quyền làm đơn tố cáo hoặc khiếu nại yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011Luật Tố cáo năm 2011.

7. Tranh chấp đất đai giữa hai hộ gia đình có đất liền kề thì giải quyết như thế nào?

Xin hỏi luật sư: gia đình ông A có thửa đất từ trước năm 2000 với diện tích 1000 m2. Tuy nhiên, năm 2001 thửa đất đó, ông B đo đạc cấp vào bìa đỏ mà ông A không biết. Đến năm 2005 hai gia đình có tranh chấp với nhau và thống nhất chia cho gia đình ông A 200 m2 có sự chứng kiến của địa chính xã, phó chủ tịch UBND xã, trưởng bản (nhưng không ghi biên bản thống nhất vì hai bên đã tự thỏa thuận được) và gia đình ông A sử dụng đất từ năm 2005 đến nay không có tranh chấp gì. Hiện nay, ông B đã mất có ghi di chúc bằng tay cho ông C (con rể ông B) và ông C mới đến đòi lại số đất 200 m2 trên với lý do thửa đất nằm trong bìa của bố vợ mình. Luật sư cho tôi hỏi:

1. Ông C có quyền làm đơn đòi lại thửa đất 200m2 không vì khi thống nhất chỉ có ông A và ông B không có mặt ông C, và di chúc của ông B chỉ ghi bằng tay và ghi chung chung là tài sản trong nhà giao cho con rể sử dụng.

2. Nếu hiện nay có giấy xác nhận các bên tham gia chứng kiến việc ông A, ông B chia đất với nhau từ năm 2005 thì theo quy định của pháp luật đất đó có thuộc về ông A không? Nếu có thì căn cứ ở luật nào?

3. Theo quy định của pháp luật thì việc trên sẽ giải quyết như thế nào. Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì năm 2001 ông B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng bạn lại không đề cập tới việc ông A có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh quyền sử dụng đất của mình hay chưa. Do đó, chúng tôi hiểu rằng ông A không có bất kỳ một giấy tờ, tài liệu nào chứng minh về việc mình có quyền sử dụng đất. Đồng thời, khi ông A và ông B xảy ra tranh chấp thì giữa hai người cũng đã có sự thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp, chia cho ông A 200m2 đất. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp này lại không có bất kỳ một văn bản nào đó xác nhận, mà chỉ có sự chứng kiến của địa chính xã, phó chủ tịch UBND xã, trưởng bản. Do đó, nếu như ông A không có bất kỳ một tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất của mình thì mảnh đất này vẫn thuộc về ông B, khi ông C - là người được nhận thừa kế từ ông B thì ông C hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét, giải quyết.

Trong trường hợp, ông A có các giấy tờ, tài liệu chứng minh mảnh đất thuộc quyền sở hữu của ông A thì căn cứ Điều 100, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật đất đai thì ông A có quyền sử dụng đối với mảnh đất này, đồng thời, ông A cũng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác cho ông A.

Tại thời điểm này mới xảy ra tranh chấp giữa ông C và ông A do đó luật áp dụng ở đây sẽ là Luật Đất đai năm 2013, bạn có thể tham khảo quy định giải quyết tranh chấp đất đai tại Điều 202 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 để có hướng giải quyết phù hợp cho mình.

8. Giải quyết tranh chấp đất đai giữa mẹ và các con trong gia đình?

Chào công ty Luật Minh Khuê! Vui lòng cho tôi hỏi: Nhà tôi có mảnh đất do ông bà để lại. Bà ngoại tôi vẫn còn sống nhưng mảnh đất đó cậu tôi là người đứng tên trong bìa đỏ. Bà ngoại tôi có 4 người con, bà định sẽ cho 2 đứa con gái 1 miếng, còn lại của 2 con trai. Nhưng cậu tôi lại không đồng ý và xảy ra tranh chấp. Tôi là cháu gái của bà và đã ở đó từ lúc sinh ra. Trong trường hợp này thì tôi cần làm gì để giúp mẹ và dì tôi cũng được chia phần đất do ông bà để lại ạ. Vui lòng trả lời giúp tôi với ạ. Xin cảm ơn công ty!

Trả lời:

Theo khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

"16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất."

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì cậu bạn là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đó theo quy định pháp luật trên thì cậu bạn được pháp luật thừa nhận về quyền sử dụng đất. Bà ngoại bạn không có quyền gì đối với mảnh đất này nên đương nhiên bà ngoại bạn không có quyền tặng cho hay chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất này cho hai người con gái.

Nếu bà ngoại bạn muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất này cho hai người con gái bà ngoại bạn cần phải có căn cứ chứng minh đất này thuộc quyền sử dụng của mình. Hoặc bà ngoại bạn phải chứng minh được mảnh đất này do ông bà để lại, chưa phân chia thừa kế theo quy định, không thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của Bộ Luật dân sự và Luật đất đai tại thời điểm cậu bạn đứng tên. Lúc này, bà ngoại bạn có quyền nộp đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất hoặc nộp đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp huyện để yêu cầu giải quyết tranh chấp giữa các bên.

9. Trình tự giải quyết tranh chấp về lối đi chung giữa các thửa đất?

Thưa luật sư, cho em xin hỏi một vài vấn đề: Giữa vườn cà phê nhà em và nhà hàng xóm có 1 con đường ở giữa. Từ lâu nay vẫn để sử dụng cho 2 nhà. Nhưng phía nhà em có trồng cây con gì trên bờ đất phía nhà cũng đều bị nhà hàng xóm nhổ lên (rất nhiều lần), như vậy là đã phá hoại tài sản và đất đai của gia đình em. Và từ đó xảy ra mâu thuẫn và tranh chấp. Em có tìm hiểu về lịch sử lô đất. Chủ nhà bán đất cho nhà em có nói con đường là do anh ấy để với lí do để phục vụ cho nông nghiệp. Anh ấy sẽ đứng ra để làm chứng nếu như có tranh chấp theo pháp luật. Em muốn hỏi giờ em muốn lấy lại con đường, hoặc ít nhất là chia đôi con đường ra để sau này khỏi tranh chấp tay đôi. Vậy thì giải quyết như thế nào, trình tự ra làm sao? Em xin cảm ơn mọi người!

Trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì nhà bạn và nhà hàng xóm có một con đường ở giữa, bạn có tìm hiểu về nguồn gốc của con đường này là do anh chủ cũ để lại. Tuy nhiên, bạn lại không có bất kỳ một căn cứ gì đó thể hiện điều này. Do đó, khi bạn có nhu cầu lấy lại con đường hay chia đôi con đường bạn nên tiến hành thỏa thuận với người hàng xóm. Nếu như hai bên không tự thỏa thuận được với nhau thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết như sau:

Căn cứ Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai thì chính quyền địa phương sẽ tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai giữa các bên, sau thời hạn 45 ngày, Chủ tịch UBND xã sẽ lập biên bản hòa giải giữa các bên, có chữ ký của các bên tranh chấp và các chủ thể có thẩm quyền tham gia hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định. Biên bản hòa giải có thể là biên bản hòa giải thành hoặc hòa giải không thành. Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết theo Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

- Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

- Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

+ Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định: Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

+ Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Sau khi có quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì bạn sẽ căn cứ vào Quyết định đó để đăng ký biến động đất đai để cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để tránh rủi ro và tranh chấp về sau.

10. Thủ tục Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm liên quan đến giải quyết tranh chấp đất đai?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi có xảy ra tranh chấp đất đai. Mẹ tôi có cầm ruộng cho cậu nhưng không có giấy tờ vì nghĩ chị em trong nhà. Khi cậu kêu mẹ ký giấy để tách ruộng của ông bà cho, mẹ không đọc và ký nhưng đến nay mẹ muốn chuộc lại ruộng thì cậu nói mẹ đã bán cho cậu, mẹ không đồng ý và không đưa đất cho cậu. Sau đó, cậu đã kiện ra tòa án huyện và tỉnh. Cả hai cấp xét xử đều xử phần thắng đều thuộc về cậu vì cậu có đầy đủ giấy tờ. Hiện nay, tòa đã ra quyết định thi hành án, gia đình tôi không đồng ý và gia đình tôi vẫn muốn kháng cáo lên tòa án tối cao để giải quyết, nhưng không biết làm thế nào. Nếu thời gian lâu không kháng cáo giờ kháng cáo có kịp không? Tòa đã ra quyết định cả tháng nay nhưng thi hành án mới vào cách đây 02 ngày và chỉ nói sau vụ lúa này phải trả ruộng lại và đóng mức án phí. Mong luật sư tư vấn giúp chúng tôi. Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bản án Tòa án đã ra được khoảng một tháng, nhưng đã xét xử hai lần một lần ở Tòa án nhân dân cấp huyện, sau đó Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Tức đã qua giai đoạn xét xử sơ thẩm, trường hợp này, gia đình bạn chỉ có thể nộp đơn đề nghị chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm để giải quyết.

Đối với thủ tục Giám đốc thẩm:

Căn cứ Điều 325, Điều 326 và Điều 327 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thì: Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ sau:

- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, thời hạn kháng nghị giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục Giám đốc thẩm trong trường hợp này của gia đình bạn vẫn còn nhưng muốn được Tòa án nhân dân cấp cao tiếp nhận để giải quyết theo thủ tục Giám đốc thẩm thì gia đình bạn phải có những căn cứ chứng minh việc yêu cầu kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm là đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật.

Đối với thủ tục tái thẩm:

Căn cứ theo Điều 351, Điều 352 và Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định thì:

"Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó."

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bao gồm một trong những căn cứ sau đây:

- Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

- Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;

- Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;

- Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

Cũng giống như thủ tục tái thẩm, thời hạn yêu cầu kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, gia đình bạn phải cung cấp được các bằng chứng để chứng minh có một trong các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì Tòa án cấp cao mới chấp nhận và giải quyết vụ án cho gia đình bạn theo đúng quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật đất đai - Công ty Luật Minh Khuê.