Năm 2008 tôi làm đơn xin tách thửa để cắt một phần đất và nhà phía sau cho con gái tôi ở (đã được UBND huyện Eakar đồng ý cho tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành hai thửa riêng, hiện tại con gái tôi đã có gia đình và cũng sử dụng lối đi chung này). Hiện nay UBND huyện Eakar đã lên kế hoạch trưng thu lại lối đi này để bán sung vào công quỹ, bởi vì họ bảo lối đi này không thuộc về ai? Như vậy việc thu hồi lối đi chung đó để bán của Ủy ban nhân dân huyện Eakar như vậy có hợp lý hay không? Kính mong luật sư tư vấn giúp. Xin trân trọng cảm ơn!

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi cho Công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được tư vấn như sau: 

1. Cơ sở pháp lý: 

 

Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13

2. Luật sư tư vấn:

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì các trường hợp thu hồi đất gồm có:

Điều 61. Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh

Điều 62. Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Điều 63. Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

Điều 65. Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

Luật Đất đai 2013 cũng quy định tại Điều 66 về thẩm quyền thu hồi đất như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;

b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.

Như vậy, UBND cấp huyện chỉ có quyền thu hồi phần đất nói trên theo các trường hợp được quy định tại điều 61 đến điều 65 Luật đất đai năm 2013. UBND huyện không thể thu hồi đất với lý do "đất không thuộc về ai". Nếu UBND huyện thu hồi đất với lý do khác hợp pháp thì khi có quyết định thu hồi, UBND cũng đồng thời có trách nhiệm phải bồi thường, hỗ trợ, tái định cư,...phù hợp, việc này sẽ được tổ chức lấy ý kiến. Nếu gia đình bạn và những hộ xung quanh không đồng ý với quyết định này của Ủy ban thì có thể tiến hành làm đơn khiếu nại để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trình tự khiếu nại được quy định tại điều 7 Luật khiếu nại năm 2011 như sau:

- Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. 

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

- Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Như vậy bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện. Nếu không được giải quyết bạn có thể khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp. Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Đất đai - Công ty luật Minh Khuê