Bà em đã khởi đơn kiện lên tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ. Nhưng tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ đã chuyển đơn về tòa án nhân dân xã Tân Lập nhưng không được giải quyết. Và cứ thế bà em lại đưa đơn lên tỉnh tỉnh lại trả về huyện huyện lại trả về xã và đến bây giờ là 9 năm mà bà em vẫn chưa nhận được tiền đền bù trong khi các hộ gia đình khác đều nhận được tiền từ cách đấy rất lâu rồi. Gia đình nhà em là gia đình liệt sỹ ông và các cụ đã cống hiến cho Đảng và Nhà nước rất nhiều vậy mà giờ ở xã họ chèn ép bà em và không trả tiền đền bù. Em mong anh nhận được mail này của em hãy tư vấn và chỉ đường giúp em để em có thể lấy lại số tiền và danh dự của gia đình vì bao nhiêu năm đi đòi mà không đươc một xu nào cả. Cảm ơn bên anh nhiều.

Người gửi: T.T.L

Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục Tư vấn pháp luật đất đai của công ty luật Minh khuê

Thủ tục đền bù đất đai

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý

Luật đất đai năm 1993 

Luật đất đai năm 2003 

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 

Luật tố tụng hành chính 2010 

Nghị quyết số 56/2010/QH12 về thi hành Luật tố tụng hành chính do Quốc hội ban hành

Phân tích nội dung

+ Về việc thu hồi đất

Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi thì bà của bạn bị thu hồi đất vào năm 2003, như vậy, vào thời điểm này thì Luật đất đai năm 1993 vẫn đang có hiệu lực thi hành. Theo đó, tại Điều 27 Luật đất đai năm 1993 quy định: "Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại." Như vậy, Nhà nước chỉ bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất có đất bị thu hồi vì mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

Do bạn không nêu rõ là bà của bạn khởi kiện về việc gì (quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường hay hành vi không bồi thường theo quyết định bồi thường của UBND xã) nhưng dựa trên thông tin bạn đã cung cấp cho chúng tôi là đến năm 2012 UBND xã đã bồi thường cho 288m2 đất của bà bạn nên chúng tôi tạm xác định đất mà bà bạn bị thu hồi là đất thuộc diện được bồi thường và bà bạn khởi kiện về hành vi không bồi thường theo quyết định bồi thường của UBND xã. Theo đó, chúng tôi cũng xác định đây là vụ án hành chính và phải được giải quyết theo thủ tục khiếu nại hành vi hành chính về quản lý đất đai chứ không phải tranh chấp về đất đai.

+ Về thẩm quyền giải quyết

Thứ nhất, theo như những thông tin mà bạn đã cung cấp, tính cho đến thời điểm hiện tại là 9 năm bà của bạn đã làm đơn khởi kiện về việc bồi thường đất đai. Tức là bà bạn khởi kiện lần đầu là vào năm 2006. Khi đó, Luật đất đai năm 2003 đã có hiệu lực (Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004). Điểm a và điểm b khoản 2 Điều 138 Luật đất đai năm 2003 quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai như sau: 

"Điều 138. Giải quyết khiếu nại về đất đai

2. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau:

a) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

b) Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án nhân dân;"

Như vậy, thẩm quyền để giải quyết khiếu nại về đất đai, cụ thể trong trường hợp của bà bạn là khiếu nại hành vi hành chính về quản lý đất đai là UBND huyện chứ không phải là Tòa án nhân dân huyện. Sau khi bà bạn gửi khiếu nại đến UBND huyện và được giải quyết mà bà bạn không đồng ý với quyết định giải quyết đó thì bà của bạn mới có thể hoặc tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh hoặc Tòa án nhân dân.

Vì vậy, khi bà bạn nộp đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện là sai thẩm quyền vì vậy Tòa án không thụ lý và đã chuyển về cho UBND xã là đúng (Theo như thông tin bạn đã cung cấp thì chắc bạn có sự nhầm lẫn ở đây vì theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 thì hệ thống Tòa án được tổ chức đến cấp huyện, vì vậy không có Tòa án nhân dân cấp xã).

+ Về quyết định bồi thường 288m2 đất

Trước đây theo quy định của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì thời hiệu khiếu kiện hành chính là 30 ngày hoặc 45 ngày tuỳ từng trường hợp. Hiện nay, theo Luật Tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện được tính căn cứ vào nội dung đơn kiện.

Theo quy định tại Điều 104 Luật Tố tụng hành chính, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. 

Theo đó, thời hiệu khởi kiện hành vi hành chính về đất đai theo Luật Đất đai là 1 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính. Tuy nhiên, Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 quy định như sau: 

"Điều 3.

Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tố tụng hành chính."

Luật Tố tụng hành chính năm 2010 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2011, theo đó trong thời hạn từ 01/07/2011 đến 01/07/2012, nếu bà của bạn đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch UBND huyện hoặc tỉnh từ 01/06/2006 đến ngày 01/07/2011 mà không được giải quyết hoặc được giải quyết nhưng bà của bạn không đồng ý với quyết định giải quyết thì có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Do bạn không nêu rõ lý do vì sao đến năm 2012 UBND mới chỉ bồi thường cho bà của bạn đối với phần diện tích 288m2 nên chúng tôi tạm chia trường hợp như sau:

- Trường hợp bà của bạn khởi kiện đến Tòa và được Tòa án thụ lý giải quyết tức là việc bồi thường của UBND đối với 288m2 đất là thi hành bản án. Trong trường hợp bà bạn không đồng ý với quyết định của Tòa án trong bản án thì bà bạn có thể kháng cáo bản án đó. Tuy nhiên thời hạn kháng cáo chỉ là 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án hoặc trong trường hợp bà của bạn vắng mặt thì từ ngày bản án được giao cho bà của bạn hoặc được niêm yết nên tính đến thời điểm này thì bà của bạn đã hết quyền kháng cáo.

- Trường hợp UBND huyện đã tiếp nhận khiếu nại và giải quyết khiếu nại lần đầu cho bà của bạn là đền bù 288m2 đất nhưng bà của bạn không đồng ý thì trong trường hợp này, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 138 Luật đất đai năm 2003 thì trong thời hạn bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân. Như vậy, tính đến thời điểm này thì bà của bạn cũng đã hết quyền khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện tại Tòa án.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai