1. Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi một bên vắng mặt ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi có làm đơn tranh chấp đất đai với 1 người nhưng người đó đã bỏ địa phương quá 6 tháng. Nên chính quyền địa phương không giải quyết đến nay đã 5 năm. Mặc dù tôi có hỏi thăm chính quyền vụ đất trên rất nhiều lần. Vậy tôi phải làm sao để được chính quyền giải quyết tranh chấp trên?
Xin cám ơn.

Người gửi: Kien

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.1940

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Công ty. Về vấn đề của bạn, công ty xin giải đáp như sau:

Với trường hợp của bạn, tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Về nguyên tắc, tranh chấp đất đai phải được hòa giải trước khi khởi kiện ra tòa. Hai bên có thể tự hòa giải hoặc gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tranh chấp đất để hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013. Khi đó, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã sẽ có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cậu giải quyết tranh chấp đất đai.

Trong trường hợp này bạn mới chỉ cung cấp vì người có tranh chấp đất với anh đã bỏ địa phương đi 6 tháng, vì thời gian đi khỏi địa phương chưa đến 2 năm nên không thuộc vào quy định của Điều 78 Bộ Luật dân sự năm 2005 về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với người đó.

Vì anh không nêu cụ thể nên em không xác định được người có tranh chấp đất đai với anh bỏ đi khỏi địa phương 6 tháng từ khi anh bắt đầu gửi đơn kiện từ 5 năm trước hay người đó mới bỏ đi trong vòng 6 tháng gần đây?

Anh nói vì bên bị đơn đã bỏ đi khỏi 6 tháng khỏi địa phương nên chính quyền không giải quyết việc tranh chấp đất. Có nghĩa là Tòa đã phải ra quyết định hoãn phiên tòa khi bên bị đơn vắng mặt, trường hợp này của anh thuộc vào quy định tại Điều 225 Bộ Luật tố tụng dân sự 2004.

Căn cứ theo quy định tại Điều 208 Bộ Luật Tố tụng dân sự về Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

Vì anh không nêu rõ người có tranh chấp đất với anh đi khỏi địa phương từ khi nào vì thế nên em không thể xác định được tòa ra quyết định hoãn phiên tòa đã được bao nhiêu ngày.

Nếu như người có tranh chấp đất đai với anh mà bỏ đi khỏi địa phương trong khi người đó đã nhận được đơn triệu tập hợp lệ của tòa án đến lần thứ hau mà vẫn vắng mặt thì Tòa án sẽ vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ tuân theo quy định tại Khoản 2 Điều 200 Bộ Luật Tố tụng dân sự

>> Tham khảo ngay: Tư vấn tranh chấp đất đai: Mua bán nhà đất bằng giấy tờ viết tay?

2. Tranh chấp đất đai giữa các hộ gia đình thì phải làm như thế nào?

Thưa luật sư, hiện tại gia đình e có 6ha rừng được nhà nước giao và cấp xổ xanh năm 1994 giá trị sử dụng 50năm rừng ở vị trí cao nên gia đình e để rừng tự nhiên thời gian gần đây có 2 hộ gia đình giáp gianh phát rừng để trồng keo đã phát và trồng lấn lên đất nhà e 1ha e cần phải là thủ tục như thế nào để lấy lại diện tích bị lấn chiếm ? Tôi xin cảm ơn.
- Vũ Minh Thiế

3. Tranh chấp đất đai phải kiện ở đâu và kiện như thế nào ?

Kính thưa luật sư, nhà tôi có mảnh đất mua từ năm 1994,đến năm 1996 được cấp sổ đỏ, do chưa có nhu cầu sử dùng và cũng đi xa 1 thời gian nhưng vẫn nhờ người ở nhà đóng thuế đất hàng năm đày đủ. Nhà bên cạnh lô đất nhà tôi cũng được cấp sổ đỏ cùng thời gian như vậy nhưng lại có một phần diện tích trong mảnh đất nhà tôi là 60m2. Do có nhu cầu sử dụng, xây dựng thì nhà bên sang đòi đất nhà tôi. Tôi đưa sổ đỏ ra nhưng trong sổ đỏ của nhà bên cũng có phần đất ấy ( lên xã xem bản đồ địa chính thì bản đồ địa chính đã bị sửa và không có phần diện tích của nhà tôi như trong sổ đỏ) vậy tôi giải quyết tranh chấp đất đai như thế nào. Gửi đơn tranh chấp ở đâu. Và cần có những thủ tục gì ?
Xin cảm ơn luật sư.
- Ngo Thanh

4. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai giữa mẹ với cậu ruột ?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn: Trước kia mẹ tôi có bỏ tiền ra mua một mảnh đất ở với bà ngoại mà đứng tên bà ngoại.Về sau có ông cậu ruột về ở chung tới hiện tại bây giờ. Và đã cấp sổ đỏ cho cậu và mẹ tôi. Cho tôi hỏi có cách nào để mẹ tôi đứng tên một mình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Người gửi: K. L

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai giữa mẹ với cậu ruột ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.1940

Trả lời:

Theo Khoản 2, Điều 98, Luật Đất đai 2013 quy định: Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

“2. Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.”

Theo Điều 167, Luật Đất đai 2013 quy định: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

"1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.

2. Nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất thì có các quyền và nghĩa vụ như sau:

a) Nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.

Trường hợp trong nhóm người sử dụng đất có thành viên là tổ chức kinh tế thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế theo quy định của Luật này;

b) Trường hợp nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất.

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Trong trường hợp của bạn, ông cậu của bạn và mẹ bạn cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì thế, ông cậu bạn cũng như mẹ bạn cũng có quyền và nghĩa vụ về quyền sử dụng đất như những cá nhân, hộ gia đình được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khác (theo Khoản 2, Điều 98, Luật Đất đai 2013). Nếu mẹ bạn muốn đứng tên một mình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có cách là ông cậu làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng mảnh đất đó cho mẹ bạn hoặc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho mẹ bạn. Hợp đồng chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật (theo Điều 167, Luật Đất đai 2013) thì khi đó me bạn mới có thể đứng tên một mình trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.1940. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Tham khảo ngay: Khởi kiện tranh chấp đất đai khi diện tích thực tế lớn hơn diện tích trong giấy chứng nhận ?

5. Giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông nội và bố ?

Câu hỏi của em liên quan đến chia thừa kế về đất đai. Ông nội em muốn chia mảnh đất mà gia đình em đang ở cho một người con nữa nhưng vì ông chia đất không hợp lý (ông chia toàn bộ vườn, ao cho bác ấy tức là khu đất mà nhà em đang ở bị bao xung quanh) nên bố em không đồng ý.

Do không được sự đồng ý của bố em nên ông và bố đã có to tiếng với nhau. Sau đó, ông có hành vi đi nói xấu gia đình em nghiêm trọng là kể lể với bà con hàng xóm là bố em dùng gậy sắt đánh ông mặc dù chuyện đó không xảy ra và ai cũng biết. Hơn nữa ông cùng các con còn gọi bảo vệ đến nhà em tố cáo sự việc không hề xảy ra trên. Vậy luật sư cho em hỏi, việc chia đất như trên có hợp pháp không? Nếu không hợp pháp thì phải xử lý như thế nào? Và nếu có hành vi quá đáng xảy ra em có thể kiện về tội vu khống người khác được không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: P.T.

Giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông nội và bố ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1940

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Về vấn đề chia đất của ông bạn: Nếu mảnh đất này thuộc quyền sở hữu của ông của bạn thì ông bạn hoàn toà có quyền định đoạt là tài sản đấy cho ai và cho như thế nào. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định của Bộ Luật dân sự 2005, chủ sở hữu tài sản có toàn quyền định đoạt, chiếm hữu và sử dụng tài sản của mình như quy định tại điều 197 Bộ luật dân sự 2005:” chủ sở hữu có quyền bán, tặng cho, cho vay, để thừa kế từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản”.

Tuy nhiên, nếu mảnh đất này đứng tên của bố bạn thì ông bạn không có quyền quyết định chia mảnh đất này và việc ông bạn chia đất như vậy là không đúng vì ông bạn không có quyền định đoạt mảnh đất này tức là việc chia mảnh đất là không đúng theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề ông bạn vu khống cho bố bạn dùng gậy sắt đánh ông bạn mà ông bạn biết rõ là hành vi này hoàn toàn không có thật trên thực tế và mức độ của hành vi này ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm của bố bạn và gia đình bạn thì bạn có thể yêu cầu ông bạn dừng ngay hành vi này lại nếu ông bạn vẫn không dừng lại bạn có thể làm đơn gửi lên cơ quan có thẩm quyền nhờ họ can thiệp vì hành vi của ông bạn đã có những dấu hiệu có thể cấu thành tội vu khống người khác quy định tại điều 122 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

“Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Như vậy ông bạn có thể chia mảnh đất như vậy nếu mảnh đất đấy thuộc quyền sở hữu của ông bạn nghĩa là ông bạn đứng tên trên mảnh đất đấy.

Gia đình bạn có thể kiện ông bạn về tội vu khống nếu những hành vi trên còn tiếp tục tái diễn và gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới danh dự cũng như cuộc sống của gia đình bạn và gia đình bạn đã có yêu cầu mà ông bạn vẫn không dừng hành vi vu khống lại.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Tham khảo ngay: Khởi kiện tranh chấp đất đai khi diện tích thực tế lớn hơn diện tích trong giấy chứng nhận ?

6. Tư vấn về tranh chấp đất đai giữa ông và cháu ?

Xin chào Luật sư công ty Luật Minh Khuê. Em có một vấn đề liên quan đến tranh chấp đất giữa nhà em và nhà ông em: Cách đây 3 tuần ông em có ý định sửa cửa hàng nhà em, trên thửa đất 12m2 dựa vào một gò đất nhô lên mà bố em khai thác và sử dụng từ trước năm 1993 đến nay, không có tranh chấp với ai. Bố em mất năm 2011. Trong giai đoạn chuẩn bị xây, ông em gây áp lực với người bán hàng, bắt bê máy chuyển các vật dụng liên quan để lấy cớ sửa nhà. Em thấy cửa hàng vẫn đang kinh doanh bình thường nên không cho chuyển. Sau ông mới bảo, vì thấy toà nhà xuống cấp quá, cửa hàng bên dưới cũng bị ảnh hưởng nên ông sẽ giúp sửa cho. Em thấy rất mừng vì ông nghĩ cho cửa hàng của bố em, nghĩ cho hai anh em nhà em nên em thuận theo ý ông vì nghĩ ông cháu trong nhà.

Nhưng sau đó khi xây được 2 ngày, ông nói ông sẽ ngăn đôi tầng 1 nhà đó, chia 1 bên cho nhà em, 1 bên cho nhà khác rồi ông bảo nhà ông bà, ông bà thích làm gì chẳng được. Chẳng khác nào ông lừa cháu. Khi em hỏi giấy tờ đất chứng minh đâu, ông bà em phớt lờ đi bảo mày là gì mà tao phải cho mày xem. Ủy ban nhân dân Phường có nói trong buổi họp hòa giải rằng mảnh đất đó không có trên bản đồ địa chính của phường nên được coi như là đất của ông bà. Vì bố em mất không để lại di chúc nên khi chia cho ông bà tài sản để lại của bố, ông bà đã cam kết số tài sản còn lại thuộc quyền quản lý của em, mẹ và em gái em. Nhưng giờ ông bà lại đòi nhà hàng mà bố em gây dựng nên. Vậy em rất muốn anh chị tư vấn giúp xem mảnh đất đấy có thuộc quyền sở hữu của gia đình em không. Em phải làm những gì để bảo vệ quyền lợi cho gia đình mình.

Em rất mong nhận được câu trả lời. Em xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: Đ.T

Tư vấn về tranh chấp đất đai giữa ông và cháu ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.1940

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Do bạn không nói rõ mảnh đất mà bố bạn sử dụng ổn định và không có tranh chấp từ năm 1993 là đất thuộc quyền sở hữu của bố bạn do chính bố bạn tự xác lập (mua, bán) hay đó là mảnh đất được tặng cho từ ông của bạn. Nên:

-Nếu đó không phải là đất được tặng cho từ ông bạn thì đó là tài sản hợp pháp của bố bạn. Hơn nữa, ông bà bạn đã cam kết số tài sản được nhận thừa kế từ bố bạn của ông bà sẽ chuyển cho bạn, mẹ bạn và em gái tuy nhiên, việc thỏa thuận này của ông bà bạn với bạn, mẹ bạn và em gái lại không được lập thành văn bản như vậy là không đúng pháp luật theo điều 681 khoản BLDS 2005 :" Mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản." và khi đó, thỏa thuận này sẽ vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức theo điều 134 Bộ luật dân sự 2005:

" Điều 134. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu

Và khi đó, gia đình bạn sẽ không có toàn quyền sở hữu đối với mảnh đất đó vì thỏa thuận phân chia di sản giữa ông bạn và gia đình bạn vô hiệu nên ông bạn cũng là một chủ sở hữu đối với phần tài sản được thừa kế từ bố bạn. Tuy nhiện, việc làm của ông bạn là sai vì ông bạn không có toàn quyền sở hữu đối với mảnh đất của bố bạn và cũng là tài sản để thừa kế khi bố bạn chết

- Nếu đó là tài sản bố bạn được tặng cho từ ông bạn thì bạn nên quan tâm đến thủ tục nhận tặng cho. Cụ thể theo quy định tại điều 167 Luật đất đai 2013 thì việc tặng cho này cần phải được lập thành văn bản và có công chứng, chứng thực từ phía ủy ban nhân dân xã :

" Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.

2. Nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất thì có các quyền và nghĩa vụ như sau:

a) Nhóm người sử dụng đất gồm hộ gia đình, cá nhân thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này.

Trường hợp trong nhóm người sử dụng đất có thành viên là tổ chức kinh tế thì có quyền và nghĩa vụ như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế theo quy định của Luật này;

b) Trường hợp nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện thủ tục tách thửa theo quy định, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật này.

Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất không phân chia được theo phần thì ủy quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng đất.

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Bạn nên căn cứ vào các phân tích trên cũng như quy định của pháp luật và tình hình thực tế của bạn để có thể bảo vệ được quyền lợi cho gia đình mình. Về mảnh đất bạn cần xác minh rõ lại những vấn đề liên quan tới sở hữu và sử dụng đất trong thời gian bố mẹ bạn còn sống. Về tài sản gắn liền với đất , Đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bố mẹ bạn nên được xác định là tài sản chung của bố mẹ bạn. Qua trình ông giúp sức tu sửa không làm thay đổi chủ thể sở hữu tài sản này. Việc ông tu sửa chỉ là căn cứ để phân chia di sản thừa kế của bố bạn. Điều 100 Luật đất đai năm 2013 đã quy định về điều kiện được cấp sổ đỏ đối với người đang sử dụng đất ổn định lâu dài. Cụ thể:

" Điều 100. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa, nhà tình thương gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; giấy tờ mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất;
g) Các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 theo quy định của Chính phủ.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và đất đó không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Do vây, bạn có thể thu thập những giấy tờ hoặc chứng minh cho việc sử dụng đất của gia đình bạn từ năm 1993. Đây cũng chính là cơ sở để bảo vệ quyền sở hữu của bố mẹ bạn với mảnh đất trên. Khi đó, các bên thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn bao gồm: ông, bà, mẹ và em bạn cùng thực hiện việc khai nhận di sản tại phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng. Bạn có thể thực hiện thủ tục khởi kiện nếu ông bạn có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm quyền và lợi ích của gia đình bạn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê.!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê