Mảnh đất của tôi giáp đất và nhà ở của bà Nguyễn Thị Liên. Đất của tôi và bà Liên cùng chung 1 thửa đất và bà Liên là chủ thửa đất. Bà Liên cũng được nhà nước cấp giấy chứng nhậnTôi ở trên mảnh đất đó, không tranh chấp với ai cho đến hiện tại.

Ngày 14/04/2015, bà Nguyễn Thị Liên đưa đơn khiếu nại lên UBND huyện Đông Hòa, Phòng Tài Nguyên & Môi Trường huyện Đông Hòa khiếu nại việc UBND huyện cấp sổ đỏ với diện tích đất ở thiếu hạn mức, hạn mức đất ở nhà nước cho phép là 250m2 mà sao lại chỉ cấp cho bà 170m2, bà đề nghị UBND huyện cấp thêm 80m2 đất ở.

Ngày 07/06/2015, Phòng tài nguyên-môi trường huyện Đông Hòa có mời phó chủ tịch thị trấn Hòa Hiệp Trung, cán bộ địa chính thị trấn, bà Liên và tôi đến UBND thị trấn để kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đơn khiếu nại của bà Liên.

Sau khi kiểm tra, xác minh hồ sơ, giấy tờ cấp GCN quyền sử dụng đất của tôi, thì cán bộ phòng tài nguyên – môi trường khẳng định sổ đỏ của tôi là hợp pháp với diện tích đất ở là 80m2, vì căn cứ vào giấy bán đất mà bà Liên viết tay cho chồng tôi, có chữ ký của bà Liên, của chồng tôi và có chữ ký của nhân chứng). Còn việc Phòng tài nguyên – môi trường cấp sổ đỏ cho bà Liên với diện tích 170m2 đất ở là đúng, bởi vì 2 ngôi nhà chung 1 thửa đất, mà đã cấp cho nhà tôi 80m2, thì còn lại cấp cho bà Liên 170m2.

Bà Liên không đồng ý và vu khống tôi, bảo giấy bán đất của tôi là giả, bà Liên không hề bán đất, không hề ký gì hết, không hề biết giấy bán đất, chữ ký của nhân chứng cũng là giả. Bà Liên bảo: bà là chủ thửa đất thì bà Liên phải là người tách thửa cho bà Anh, chứ sao UBND huyện tự động cấp sổ đỏ cho bà Anh trong khi bà Liên chưa tách thửa.

Cán bộ Phòng tài nguyên – môi trường kết luận :

Bà Liên gửi đơn khiếu nại lên huyện về việc cấp đất ở thiếu hạn mức nhưng qua điều tra hồ sơ, GCN quyền sử dụng đất của bà Liên là hợp pháp, GCN của bà Liên với diện tích đất ở là đúng hạn mức. Thế nhưng bà Liên vẫn không đồng ý và cho rằng giấy bán đất của bà Anh là giả thì đây là việc tranh chấp đất đai giữa bà Liên và bà Anh theo giấy bán đất của bà Anh, đề nghị bà Liên gửi đơn khởi kiện lên tòa án nhân dân huyện để được giải quyết.

Vậy tôi muốn hỏi :

1/ Tôi khẳng định giấy bán đất của tôi là thật. Bà Liên vu khống là giấy giả. Tôi có thể kiện bà Liên về tội vu khống hay không ? Cơ quan nào có thẩm quyền để kiểm tra xác minh giấy bán đất của tôi là thật ? Làm sao để xác minh chữ ký, nét chữ, nhân chứng là thật ?

2/ Sau sự việc trên, bà Liên suốt ngày cứ đến trước nhà tôi chửi bới, lớn tiếng, nhục mạ cả nhà tôi đủ điều. Cả ngày phải nghe những lời không hay, tôi cảm thấy rất mệt mỏi. Vậy tôi có thể kiện bà Liên về tội chửi bới, nhục mạ nhân phẩm người khác được không ?

3/ Tôi đã có sổ đỏ từ năm 2009, vậy bây giờ tôi muốn tách ra khỏi thửa đất của bà Liên được không? Tách thửa cần những thủ tục gì? Không cần đến chữ ký của bà Liên được không?

Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Đất đai của công ty Luật Minh Khuê

Tôi đã có sổ đỏ từ năm 2009, vậy bây giờ tôi muốn tách thửa được không?

Luật sư tư vấn trực tuyến, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý:

 - Luật đất đai năm 2013

- Luật hình sự năm 1999

- Luật giám định tư pháp 2012

- Nghị định 43/2014/NĐ- CP: Hướng dẫn luật đất đai.

 - Nghị định 167/2013/NĐ-CP: Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự an toàn xã hội.

Nội dung phân tích: 

1/ Tôi khẳng định giấy bán đất của tôi là thật. Bà Liên vu khống là giấy giả. Tôi có thể kiện bà Liên về tội vu khống hay không ? Cơ quan nào có thẩm quyền để kiểm tra xác minh giấy bán đất của tôi là thật ? Làm sao để xác minh chữ ký, nét chữ, nhân chứng là thật ?

- Bà Liên đã bán đất cho gia đình bạn bằng giấy tờ viết tay nhưng hiện nay đưa ra tranh chấp, bà Liên nói rằng giấy bấn đất là giả mặc dù đã có chữ ký của 2 bên và người làm chứng. Hiện nay bạn muốn kiện bà Liên về tội vu khống, tuy nhiên để cấu thành tội này luật hình sự có quy định như sau:

"Điều 122.  Tội vu khống 

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

+ Hình thức đưa ra những thông tin nói trên có thể dưới những dạng khác nhau như: truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác… Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người phạm tội biết những thông tin mình đưa ra là không đúng sự thật nhưng đã thực hiện nhằm mục đích xúc phạm danh dự hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

+ Hành vi thứ hai: Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt.

 Người phạm tội tuy không bịa đặt nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng v.v... Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì không biết. Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực nếu họ còn bán tin bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

+ Hành vi thứ ba: Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Đây là dạng hành vi đặc biệt của hành vi phạm tội vu khống. Là hành vi tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền (Công an, Viện kiểm sát…) về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm mà hoàn toàn không có thực. Trong trường hợp này, cần lưu ý là người phạm tội biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố giác họ.

-> Như vậy hành vi của bà Liên chưa cấu thành tội vu khống.

- Để xác định giấy bán đất là hợp pháp thì theo quy định của pháp luật, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần được lạp thành văn bản có công chứng,hoặc chứng thực tại văn phòng công chứng hoặc UBND xẫ có thẩm quyền. Luật đất đai 2013 quy định rõ:

"Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

- Do thời điểm mua bán năm 1989 luật đất đai 1987 chưa quy định về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng, tuy nhiên việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Với những thông tin bạn cung cấp thì năm 2009, bạn được UBND huyện Đông Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, với diện tích đất ở (ONT) là 80m2. Năm 2015 khi có tranh chấp, sau khi kiểm tra, xác minh hồ sơ, giấy tờ cấp GCN quyền sử dụng đất của bạn, thì cán bộ phòng tài nguyên – môi trường khẳng định sổ đỏ của bạn là hợp pháp với diện tích đất ở là 80m2, vì căn cứ vào giấy bán đất mà bà Liên viết tay cho chồng bạn, có chữ ký của bà Liên, của chồng bạn và có chữ ký của nhân chứng). Bạn được UBND huyện cấp GCNQSD, hiện nay bạn có thể liên hệ văn phòng đăng ký đất đai huyện Đông Hòa để được xác minh.

- Về việc thẩm định chữ ký, nét chữ bạn có thể gửi lên cơ quan giám định tư pháp, hoặc cá nhân, tổ chức thực hiện giám định, theo luật giám định tư pháp 2012:

"Điều 26. Yêu cầu giám định tư pháp trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, vụ án hình sự

1. Người yêu cầu giám định phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) và bản sao giấy tờ chứng minh mình là đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định.

2. Văn bản yêu cầu giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây:

a) Tên tổ chức hoặc họ, tên người yêu cầu giám định;

b) Nội dung yêu cầu giám định;

c) Tên và đặc điểm của đối tượng giám định;

d) Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);

đ) Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định;

e) Chữ ký, họ, tên người yêu cầu giám định."

2/ Sau sự việc trên, bà Liên suốt ngày cứ đến trước nhà tôi chửi bới, lớn tiếng, nhục mạ cả nhà tôi đủ điều. Cả ngày phải nghe những lời không hay, tôi cảm thấy rất mệt mỏi. Vậy tôi có thể kiện bà Liên về tội chửi bới, nhục mạ nhân phẩm người khác được không ?

- Luật hình sự 1999 quy định:

"Điều 121.  Tội làm nhục người khác 

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

+ Người phạm tội phải là người có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác. Tất cả hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Nếu hành vi làm nhục người khác lại cấu thành một tội độc lập thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.

+ Xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của nạn nhân. 

+ Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại.

Thực tiễn xét xử mỗi nơi vận dụng khác nhau, neus với những thông tin bạn cung cấp thì bà Liên chưa cấu thành tội làm nhục người khác. Tuy nhiên bà Liên cso thể bị phạt hành chính theo nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;"

3/ Tôi đã có sổ đỏ từ năm 2009, vậy bây giờ tôi muốn tách ra khỏi thửa đất của bà Liên được không? Tách thửa cần những thủ tục gì? Không cần đến chữ ký của bà Liên được không?

- Năm 2009 bạn được cấp GCNQSDĐ , như vậy một mảnh đất đứng tên 2 chủ sở hữu và 2 GCN khác nhau, như vậy là bạn đã được tách thửa, bạn đã có quyền sở hữu với mảnh đất đứng tên sở hữu của mình. Tuy nhiên nếu như việc tách thửa của bạn chưa được chỉnh lý biến động, cập nhật vào hồ sơ địa chính, bạn có thể nộp hồ sơ mà không cần có chữ ký của bà Liên trong thủ tục, như sau:

+ Đơn xin tách thửa (theo mẫu)

+ GCNQSDĐ của gia đình bạn đã được cấp

- Nghị định 43/2014/ NĐ-CP:

"Điều 75. Trình tự, thủ tục thực hiện tách thửa hoặc hợp thửa đất

1. Người sử dụng đất nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị tách thửa hoặc hợp thửa.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

a) Đo đạc địa chính để chia tách thửa đất;

b) Lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất đối với thửa đất mới tách, hợp thửa;

c) Chỉnh lý, cập nhật biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai; trao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người được cấp hoặc gửi Ủy ban nhân dân cấp xã để trao đối với trường hợp nộp hồ sơ tại cấp xã."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về đất đai và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai.