Em tin tưởng chồng nên khi nghe chồng nói là khi bán đất (chồng em mua và bán lại, sổ đỏ đứng tên 1 mình chồng em) thì vợ cũng phải ký tên, công chứng. Em chỉ muốn việc của chồng thuận lợi nên đã ký tên mà ko có thắc mắc gì. Sau này em mới biết là do chồng em mắc nợ người ta nên phải làm giả hợp đồng bán đất (trong đó có ghi đã nhận đặt cọc 1 khoản tiền mua đất nhưng thực chất ko nhận tiền) để coi như làm chứng cho khoản nợ của chồng em. Vì em làm nhà nước nên chủ nợ muốn có chữ ký của em trong hợp đồng mua bán đó để có thêm chút ràng buộc. Lúc đó em không biết nên đã ký bình thường. Sau này mới biết chồng em nợ nần ko thể trả được. Nếu chủ nợ kiện chồng em ra tòa vì ký hợp đồng bán đất mà ko giao sổ đỏ, đã nhận đặt cọc thì em là người cùng ký hợp đồng đó phải chịu trách nhiệm gì trong việc này ạ? Tại sao luật lại quy định người vợ phải ký khi mà chủ sở hữu đất chỉ có tên 1 mình người chồng để những ng vợ như em lại khổ thế này. Em 1 mình đi làm phải nuôi 2 con nhỏ, chồng không có chút trách nhiệm nào. Nay, ngày ngày bị chủ nợ dọa nạt kiện tụng, em không còn tâm trí nào làm việc.

Kính mong quý Công ty bớt chút thời gian giúp đỡ em có câu trả lời nhanh nhất có thể. Em xin chân thành cảm ơn và mong đợi email của quý Công ty. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai công ty Luật Minh Khuê

 Trách nhiệm liên đới trong hợp đồng mua bán bất động sản giữa vợ chồng?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Luật hôn nhân gia đình 2014

Nội dung tư vấn:

Căn cứ theo điều 27 Luật hôn nhân gia đình 2014:

Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.

Trong trường hợp của bạn, mảnh đất thuộc sở hữu của chồng (sổ đỏ đứng tên 1 mình chồng) nhưng chưa có thông tin cụ thể là mảnh đất có phải là nơi ở chung duy nhất của vợ chồng bạn hay chỉ là một mảnh đất thuộc tài sản kinh doanh bất động sản của chồng bạn.

  • Nếu mảnh đất là nơi ở chung thì theo điều 31 có quy định :

Điều 31. Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.

Như vậy, việc chồng bạn bắt buộc yêu cầu vợ phải ký tên để giao dịch bán đất có hiệu lực là hoàn toàn chính xác. Bạn đã ký vào giấy tờ bán đất thể hiện bạn đã chấp thuận với yêu cầu trên. Hợp đồng đã được xác lập. Việc chồng bạn không giao đất và sổ đỏ theo như hợp đồng có thể gây ra tranh chấp dẫn tới khởi kiện và bạn phải chịu trách nhiệm liên đới về giao dịch chung của vợ chồng đối với tài sản riêng là mảnh đất đó.

  • Nếu mảnh đất là tài sản riêng kinh doanh của chồng bạn:

Giao dịch bán đất kể trên không phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc chồng bạn thực hiện nó là trên bình diện cá nhân, phải chịu nghĩa vụ riêng đối với tài sản đó:

Điều 45. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng

Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

2. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Tuy nhiên do chồng bạn vay tiền và không thể trả nên đã thực hiện một giao dịch dân sự giả nhằm che dấu việc đảm bảo vay tiền. Giao dịch này sẽ bị vô hiệu theo Điều 129 Bộ luật dân sự:

Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo 

Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.

Do đó, bạn không phải chịu trách nhiệm liên đới khi ký tên vào giao dịch nêu trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân.