Do nhu cầu mở rộng diên tích đầu tư kinh doanh tháng 9/2015 bà A nhận chuyển nhượng thửa đất 85 được đăng ký do bà Nguyễn Thị Đ, khi triển khai ranh từ giấy chứng nhận lên thực địa thì phát hiện chênh lệch diện tích => theo trường hợp này bà A phải giải quyết như thế nào?

* Lưu ý: - giữa ông N và bà A đã được công chúng -bà A và bà Đ chỉ mới đặt cọc

-thửa 85 đã được cấp giấy CNQSDD -phần thửa 93 (110,9m2) đã được cấp giấy CNQSDD, còn phần diện tích(164,8m2 và 139,4m2) chưa được cấp giấy

-Phần diện tích (110,9m2) có thể hiểu 1 mảnh đất hai chủ sở hữu

*Vấn đề cần giải quyết là: +Phần đất trùng của thửa 91 và 93 (110,9m2) + Phần thửa 93 rào lại bên thửa 85

Em xin chân thành cảm ơn

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn về pháp luật đất đai, gọi: 1900.1940

Trả lời:Chào bạn,cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1.Căn cứ pháp lý:

 

Luật đất đai 2013

2. Nội dung tư vấn:

Trong trường hợp của bạn đã xảy ra tranh chấp đất đai về mặt xác định diện tích giữa các thửa đất cụ thể của các chủ sở hữu khác nhau. Theo đó, việc giải quyết tranh chấp này có thể tiến hành theo như quy định của Luật đất đai 2013 như sau:

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Bạn có thể tiến hành việc hòa giải tại địa phương để các bên chủ thể liên quan tự bàn bạc và thảo luận lại với nhau để giải quyết phần đất bị trùng ranh nói trên. Vì vấn đề này có liên quan đến ranh giới, diện tích đất đăng ký trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các cá nhân hộ gia đình nên sau khi tiến hành hòa giải xong, bạn cần gửi biên bản hòa giải tới Phòng Tài nguyên và Môi trường để cấp mới lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo như nội dung đã hòa giả, thỏa thuận.

Trong trường hợp hòa giả không thành công, các bên trong vụ tranh chấp có thể tiến hành khởi kiện theo những quy định như sau:
Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Theo những thông tin bạn cung cấp, chưa thể xác định rõ phần diện tích(164,8m2 và 139,4m2) chưa được cấp giấy là thuộc thủa đất nào được nhắc tới trước đó. Bạn có thể dựa vào quy định tại Điều 203 nói trên để xác định nơi khiếu kiện đúng với pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật đất đai.