Khoảng 4 tháng sau, người dì em về nước đã làm hợp đồng để bán miếng đất đó và buộc em kí tên để bán với lí do là đất đó là đất của dì do dì gửi tiền về cho mẹ em mua và mẹ em chỉ đứng tên hộ dùm miếng đất đó. Nhưng em không đồng ý và không kí tên để bán vì trước khi mẹ mất mẹ em không để lại di chúc và dì em cũng không có giấy tờ gì để chứng minh. Dì em đã mượn mấy dì và mấy cậu khác đứng ra làm chứng và kể cả người bán đất hồi trước cho mẹ em ra làm chứng. Nay dì em đã gửi đơn ra tòa án để kiện em. Luật sư tư vấn giúp em là trường hợp khi ra tòa người dì em không có bất cứ giấy tờ nào nhưng có người làm chứng thì khả năng thắng kiện của dì có cao không? và trường hợp người dì của em đang giữ cuốn sổ đỏ thì khả năng em lấy lại nó đc không ạ? trường hợp dì em không có giấy tờ chứng minh hay giấy gửi tiền nhưng có người làm chứng là đã dì đã gửi tiền cho 1 người khác và người đó đã đưa cho mẹ em có được tòa án chấp nhận không?

Rất mong hồi âm của luật sư!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai gọi:  1900 6162

 

 Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật Đất đai năm 2013 

Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 

2. Nội dung tư vấn

Theo thông tin mà bạn cung cấp, mẹ bạn là người đứng tên trên sổ đỏ, do đó mẹ bạn là người sử dụng đất và có các quyền định đoạt về tài sản là quyền sử dụng đất. Việc mẹ bạn tặng cho bạn diện tích đất đó có hợp đồng và đã công chứng là đúng theo quy định của pháp luật đất đai. Tuy nhiên vì dì của bạn đang giữ sổ đỏ mà mẹ bạn đứng tên cho nên bạn không thể tiến hành thực hiện làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Mặt khác vì đất đang thuộc diện tranh chấp nên việc bạn có được cấp sổ đỏ hay không phụ thuộc vào phán quyết của tòa án.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy việc mẹ bạn có quyền sử dụng đất một cách hợp pháp, đã có căn cứ chứng minh là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mình. Do đó, mẹ bạn có quyền thực hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất cho bạn theo quy định tại Điều 168 Luật Đất đai 2013:

"Điều 168. Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Do đó, nếu dì của bạn không thể chứng minh được việc mẹ bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là mẹ của bạn là thông qua việc ủy quyền tức phải có căn cứ là các giấy tờ có nội dung ủy quyền thì không có cơ sở để sử dụng mảnh đất này cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng cho người khác. Đối với việc dì bạn cho rằng quyền sử dụng đất của mẹ bạn có được là do tiền của dì bạn gửi về và có chứng cứ chứng minh thì sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự về vấn đề trả các khoản nợ trong thừa kế. Theo đó, nếu bạn là người thừa kế di sản của mẹ bạn thì cũng phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ trên.

Trong trường hợp dì bạn tiến hành khởi kiện để đòi lại đất, về người làm chứng theo quy định của BLTTDS:

"Điều 77. Người làm chứng

Người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng."

Như vậy, trong trường hợp của bạn, các dì và các cậu của bạn đều có thể là người làm chứng theo đề nghị của người dì đang có tranh chấp về đất đai với bạn nếu không bị mất năng lực hành vi dân sự. Về chứng cứ trong vụ án dân sự, mặc dù không có các loại giấy tờ chứng minh nhưng lời khai của người làm chứng cũng được xem là chứng cứ theo quy định tại Điều 94 BLTTDS.

Trong trường hợp này, nếu tòa án ra quyết định giải quyết tranh chấp đất đai giữa bạn và dì bạn mà bạn có quyền sử dụng đối với diện tích đất trên thì bạn sẽ căn cứ vào phán quyết này để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không cần phải đòi lại từ người dì của mình.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:  1900 6162  hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê