Năm 1983, chú tôi lập gia đình ra ở riêng cũng gần đó, bà ở một mình trong ngôi nhà cũ. Thời điểm đó gia đình tôi, chú tôi tự kê khai diện tích đất ở mà bà chia cho (bằng miệng) và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Chú tôi được hưởng toàn bộ diện tích nền nhà cũ của bà ở khu đất A và diện tích đất chú làm nhà riêng (Chú tôi có tổng cộng 600m2 , bố tôi 300m2 ). Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu đất B mang tên bà nội tôi.

Đến năm 2003 bà tôi chia 2/3 mảnh đất ở khu B cho bác thứ 3. Có giấy ủy quyền của bà nên chính quyền địa phương đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bác tôi. Phần đất còn lại vẫn mang tên bà nội tôi. Năm 2004 chú tôi không bằng lòng đã làm đơn lên phòng địa chính đề nghị chuyển toàn bộ khu đất ở khu B mang tên bà sang tên cho chú tôi với lý do là chú tôi tự khai phá, vì bác tôi đi bộ đội. Không có sự đồng thuận của bà nên yêu cầu của chú tôi không được chấp nhận. (Các bác trong gia đình không ai có ý kiến về việc chia đất của bà cho bác thứ 3 của tôi. Vì năm 1978 bác tôi đã từng san một phần đất trên khu đất B để làm nhà nhưng do gần suối nên bác tôi lại chuyển đi nơi khác ở). Chú tôi đã kiện bác tôi nhiều lần nhưng lần nào cũng không hài lòng về kết quả nên hiện nay vụ án vẫn đang thu thập tài liệu, chứng cứ  ở cấp  tỉnh. Khu đất B vì gần suối nên gia đình tôi canh tác một phần, chú tôi canh tác một phần còn lại trồng tre để chắn lũ.

Năm 2005 bà tôi ở cùng bác thứ 2, bà giao lại toàn bộ giấy tờ phần đất còn lại của khu B cho tôi, có sự chứng kiến của các bác. Tôi đã làm thủ tục chuyển đổi, hiện nay phần đất này giấy chứng nhận quyền sử dụng mang tên tôi.Tôi cũng biếu bà một số tiền để bà dưỡng già, chú tôi cũng biết việc này. Tôi vẫn trồng hoa màu trên mảnh đất đó, phía cuối của mảnh đất vẫn tồn tại 2 khóm tre mà chú tôi trồng để chắn lũ năm nào. Nay đường được mở mảnh đất giáp mặt đường, tôi muốn xây hàng rào  bao mảnh đất đó, tôi gặp sự phản đối quyết liệt từ phía gia đình chú tôi. Tôi bối rối không biết sử xự thế nào cho phải lẽ. Chú tôi cho rằng việc chuyển đổi giấy quyền sử dụng đất của tôi là không hợp lý vì đó là mảnh đất tranh chấp năm 2004.

Tôi rất mong luật sư tư vấn cho tôi  về những khúc mắc trên. Hiện bà tôi đã mất, tôi không muốn mình là người kế tiếp gặp nhau trên tòa với chú mình. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: V.V.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Tranh chấp đất đai khai hoang được chuyển nhượng ?

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số:  1900 6162

 

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật Đất đai 2013 

2. Nội dung tư vấn:

Theo Khoản 1, Điều 167, Luật Đất đai 2013 quy định: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.”

Theo Khoản 1, Điều 168, Luật Đất đai 2013 quy định: Thời điểm được thực hiện các quyền của người sử dụng đất

“1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận. Đối với trường hợp chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp thì người sử dụng đất được thực hiện quyền sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất; trường hợp nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện quyền khi có Giấy chứng nhận hoặc đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.”

Theo Điểm c, Khoản 1, Điều 169, Luật Đất đai 2013 quy định: Nhận quyền sử dụng đất

“1. Người nhận quyền sử dụng đất được quy định như sau:

c) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm e khoản 1 Điều 179 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 191 của Luật này;”

Theo Điều 202, Luật Đất đai 2013 quy định: Hòa giải tranh chấp đất đai

"1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Theo Điều 203, Luật Đất đai 2013: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

"Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Do bà nội bạn đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khu đất B nên bà của bạn có quyền tặng cho quyền sử dụng đất  khu B cho bạn theo Khoản 1, Điều 167, Luật Đất đai 2013. Thời điểm được tặng cho quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Khoản 1, Điều 168, Luật Đất đai 2013. Bạn có quyền nhận tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 169, Luật Đất đai 2013. Vì vậy, việc chuyển đổi quyền sử dụng đất của bạn là phù hợp với quy định pháp luật. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã mang tên bạn, vì vậy hiện tại bạn có quyền sử dụng đất hợp pháp về mặt pháp lý trên mảnh đất đấy.

Mặt khác, nếu chú bạn vẫn không đồng ý việc tặng cho quyền sử dụng đất cho bạn, mà bạn không muốn giải quyết tranh chấp bằng Toà án. Thì trước hết, bạn và chú bạn có thể tự thoả thuận hoặc hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải theo Điều 202, Luật Đất đai 2013.

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì chỉ còn cách là Toà án giải quyết tranh chấp đất đai theo Khoản 1, Điều 203, Luật Đất đai 2013.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. 

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email hoặc tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900 6162 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai  - Công ty luật Minh KHuê