Khi đã xong thủ tục pháp lý, sau một thời gian tôi đi vào sử dụng thì phần ngõ đi chung bị ông V (em trai ông Đ) xây chặn lại không cho tôi làm ngõ để đi vì có tranh chấp đất với mẹ. Mảnh đất hiện tại mang tên bà mẹ nhưng ông V nói là đất bố cho ông V. Tôi tìm hiểu và được biết ông V sống không có đạo đức nên lúc sống nhờ mượn được chén rượu nhờ bố uống lúc say nên ông bố nói cho nhưng sau khi bố chết không để lại giấy tờ, văn bản cho ông V mặc dù những người con khác đều có. Hiện tại bà  mẹ vẫn còn sống nhưng cũng tuyên bố là không cho ông V mảnh đất đó vì đã chia cho một mảnh ở chỗ khác rồi. Nói là không cho nhưng ông V vẫn cứ nhận là của mình và không cho ai động vào kể cả mẹ. Thực tế, tôi có nhờ chính quyền xã giúp tôi giải quyết tranh chấp này để tôi lấy lại quyền sử dụng ngõ đi nhưng chính quyền có vẻ e ngại vì ông V là Đảng viên và là thương binh. Còn chủ tịch xã nói di chúc bằng lời nói cũng được lấy làm căn cứ (có giá trị). Tôi rất mong luật sư tư vấn cho tôi làm thế nào, dựa vào luật ra sao để tôi lấy lại quyền sử dụng đất hợp pháp mà nhà nước đã công nhận cho tôi ? Tôi xin chân thành cảm ơn !

Người gửi: N.T.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn đất đai gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục hỏi đáp pháp luật của chúng tôi, vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Nội dung phân tích:

Điều 275 Bộ luật Dân sự quy định quyền về lối đi qua bất động sản liền kề:

"1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

3. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù."

Điều 265 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 265. Nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản

1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thoả thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên mà không có tranh chấp."

Trường hợp của bạn, năm 2010 bạn mua đất của ông Đ thời điểm không có tranh chấp và trên trích lục bản đồ của xã có ranh giới lối đi rõ ràng thì gia đình bạn hoàn toàn có quyền được sử dụng lối đi chung. Bạn có thể gặp và thỏa thuận với người em kia về lối đi chung, nếu như bạn đã làm tất cả những gì có thể mà người kia vẫn gây khó dễ thì bạn có thể gửi đơn đến UBND xã nhờ can thiệp. Nếu chính quyền địa phương bạn có vẻ e ngại vì ông V là Đảng viên và là thương binh, còn chủ tịch xã nói di chúc bằng lời nói cũng được lấy làm căn cứ (có giá trị) là trái với quy định của pháp luật. Căn cứ bộ luật dân sự di chúc miệng chỉ có giá trị pháp luật khi đáp ứng đủ các điều kiện

"Điều 651. Di chúc miệng

1. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.

Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực."

Ngoài ra việc chủ tịch UBND xã nói là không hợp lý vì:

"Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai."

Trường hợp gia đình không thỏa mãn với giải quyết của xã, phường bạn có thể khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013.

"Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Trên đây là một số tư vấn pháp luật về vấn đề của bạn, hi vọng sẽ giúp được bạn trong vấn đề của mình.Mọi chi tiết thắc mắc xin liên hệ 19006162

TRÂN TRỌNG.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.