1. Tư vấn, hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai ?

Công ty luật Minh Khuê xin tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai, như sau:

Tư vấn, hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai ?

Hướng dẫn thủ tục, quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại tòa án - Ảnh minh họa

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

- Căn cứ Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định về tranh chấp đất đai như sau:

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai​
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Như vậy, khi xảy ra tranh chấp đất đai giữa cá nhân với cá nhân, để bảo vệ quyền lợi của mình bạn gửi đơn lên Uỷ ban nhân dân cấp xã phường nơi bị đơn cư trú để yêu cầu hòa giải. Hòa giải không thành, bạn có quyền gửi đơn lên tòa để khởi kiện tranh chấp đất đai.

- Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định gửi đơn khởi kiện như sau:

Điều 190. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.

Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.

3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.

4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email hoặc qua tổng đài 1900.1940. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Tham khảo thêm: Tranh chấp đất đai đã có biên bản hòa giải và sự đồng ý của các bên có được khiếu kiện không ?

2. Luật sư tư vấn giúp em về tranh chấp đất đai khi bị mất sổ đỏ ?

Gửi luật minh khuê em có tình huống về luật như sau mà không biết giải quyết như thế nào xin luật minh khuê tư vấn giúp em. Nhà em bị mất sổ đỏ. Sau một thời gian mới phát hiện ra khi có người mangsổ đỏ (bản photo) tới nhà em và nói rằng có chị hàng xóm đã lấy sổ nhà emvà cầm cho họ là 30 triệu đồng. Và họ yêu cầu nhà em chuộc lại sổ này. Nhàem không chịu và họ vẫn giữ sổ đỏ nhà em. Sau đó nhà em đã yêu cầu chị hàng xóm đi chuộc lại nếu không sẽ báo chínhquyền. Chị ấy đã năng nỉ cho chị đó thời gian để chuộc lại. Vì lúc đó chị ấy không có tiền và mẹ chị ấy đã lớn tuổi và có qua nhà emnăn nỉ, nên nhà em đã không đem chuyện này đi kiện tụng. Và cho chị ấy thờigian chuộc sổ trả lại cho nhà em. Nhưng đã 3 năm rồi chị ta vẫn chưa chuộc lại sổ. Vậy quý luật sư tư vấn giúp em. Để em có cách giải quyết nào cho đúng tình đúng lý ?
Em xin chân thành cám ơn.
- Phong Lê

3. Từ một vụ tranh chấp đất đai nghĩ thêm về quyền tài sản ?

Vụ án dưới đây chỉ là một trong số hàng vạn tranh chấp về nhà đất ở Việt Nam. Năm 1995 ông Bùi Văn Thanh mua nhà đất của bà Nguyễn Thị Nương tại ấp 7, xã Thanh Hòa, Lộc Ninh, Bình Phước; việc mua bán được làm bằng giấy viết tay. Năm 1996, bà Nương được UBND huyện Lộc Linh cấp sổ đỏ cho lô đất kể trên.

Dựa trên sổ đỏ đó, bà này khởi kiện, đòi ông Thanh phải trả lại nhà đất, với lí do việc mua bán đất là vô hiệu. Qua các cấp xét xử, TAND huyện Lộc Ninh (Bản án sơ thẩm số 40/DSST ngày 31/12/2002), TAND tỉnh Bình Phước (Bản án phúc thẩm số 38/DSPT ngày 15/04/2003) đều xác nhận việc mua bán nhà đất là có thực, song tuyên bố hợp đồng này vô hiệu, vì vào năm 1995 người bán chưa được cấp sổ đỏ nên chưa có quyền bán đất, sau khi bán hai bên lại không làm thủ tục đăng kí chuyển nhượng sổ đỏ. Tuyên hợp đồng mua bán nhà đất vô hiệu, tòa buộc ông Thanh phải trả lại đất cho bà Nương; ngược lại, bà Nương có nghĩa vụ trả lại cho ông Thanh số tiền bán nhà đất đã nhận.

Vụ tranh chấp kể trên không phải cá biệt, mà ngược lại, là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam. Từ vụ tranh chấp kể trên có nhiều vấn đề pháp lí cơ bản dưới đây cần được thảo luận: (i) nhà đất đang chờ sổ đỏ có thể mua bán được hay không, (ii) hợp đồng mua bán nhà đất viết tay có hiệu lực hay không, (iii) tòa án cần can thiệp như thế nào đối với những trường hợp tương tự.

Mua bán nhà đất đang chờ sổ đỏ

Pháp luật phải ghi nhận và bảo hộ quyền tài sản tư của người dân (gọi đó là quyền sử dụng đất hay quyền thuê đất), kể cả khi đất đó chưa được cấp sổ đỏ. Điều này dễ hiểu như một người vừa mua một chiếc xe máy từ cửa hàng mà chưa kịp đăng kí; xe chờ đăng kí cũng giống như nhà đất chờ cấp sổ đỏ. Nếu người ta có thể mua bán, tặng cho xe chưa đăng kí, thì nhà đất chờ cấp sổ đỏ cũng là một thứ tài sản không thể bị cấm lưu hành.

Thực ra sổ đỏ với đất, sổ hồng với nhà đều là sự ghi chép của nhà nước phục vụ minh bạch hóa quyền tài sản, chứ các ủy ban nhân dân không có cái quyền ban phát sở hữu, cũng như cái giấy khai sinh chỉ ghi nhận, chứ cái giấy đó không đẻ ra con người. Quyền tài sản, từ thủa hồng hoang cho tới nay, đều hình thành qua vài con đường, hoặc do cưỡng đoạt, hoặc do khẩn khai, tôn tạo, hoặc do thừa kế hay mua sắm mà có. Điều ấy cũng đúng với nhà đất, quyền tài sản đối với nhà đất đã được xác lập bởi nhiều phương cách khác nhau. Chước bạ thời xưa hay sổ đỏ thời nay chỉ là sự ghi chép, chứ không thể sinh ra quyền tài sản. Nếu xem xét như vậy, thì nhà đất chờ sổ đỏ tất phải là quyền tài sản của người dân và tất yếu phải được lưu hành.

Văn tự mua bán nhà đất viết tay có hiệu lực không?

Tự thủa xa xưa, người nước ta vẫn mua bán nhà đất bằng văn tự viết tay. Các khế ước đoạn mãi thường rất ngắn gọn, theo một thể thức đơn giản, nhấn mạnh tới việc mua đứt bán đoạn, thế mới gọi là đoạn mãi. Đối với nhà đất đang chờ sổ đỏ, các bên chẳng còn cách nào khác là phải mua bán bằng giấy viết tay, bởi người bán mới hoàn tất kê khai, song chưa được cấp sổ đỏ, vì thế không thể công chứng hợp đồng và tiến hành đúng các thủ tục mà Bộ luật dân sự nước ta quy định.

Tuyên vô hiệu một hợp đồng nghĩa là can thiệp vào quyền tự do định đoạt tài sản, tự do khế ước của các bên; một sự can thiệp như vậy rất nên được cân nhắc cẩn trọng. Nếu nhà đất chờ sổ đỏ không phải là hàng cấm, người bán người mua không bị nhầm lẫn và bày tỏ ý chí của mình một cách tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng bức.. thì khế ước đã bước đầu được xác lập một cách có hiệu lực. Kể cả khi khế ước không được xác lập đúng thể thức, thì khế ước đó không mặc nhiên vô hiệu, người ta phải chiểu theo ý chí tự do khế ước mà hối thúc các bên hoàn tất những thể thức dở dang theo luật định.

Tòa án cần can thiệp ra sao?

Tôi rất hiểu nỗi phiền lòng của quan tòa nước ta, phải tuân thủ pháp luật chứ chưa có quyền sáng tạo ra án lệ hay dựa vào học lí mà giải thích luật. Song tôn chỉ của tòa án trước hết là hướng tới công lí, chứ không hướng tới sự phục tùng kiểu như mệnh lệnh hành chính. Bởi vậy, tìm cách hợp lí nhất bảo vệ quyền dân sự chính đáng của người dân có lẽ là hướng can thiệp đáng hoan nghênh nhất trong thời buổi hiện nay.

Cũng giống như mua xe chưa đăng kí, từ cái xe đó, người ta thủ đắc luôn quyền đem giấy tờ ra để đăng kí chước bạ với cảnh sát giao thông. Thì cũng vậy, người mua nhà đất đang chờ sổ đỏ cũng phải có cái quyền nại ra cơ quan chước bạ để ghi tên mình vào sổ và được cấp sổ đỏ cho vật quyền có được do khế ước. Nếu sổ đỏ, vì lí do nào đó đã được cấp cho chủ cũ sau khi việc mua bán nhà đất diễn ra, thì chủ mới vẫn có cái quyền nại ra cơ quan công lực để hoàn tất nốt những thể thức đăng kí thay đổi chước bạ. Mọi lí thuyết về quyền tài sản đang hình thành hay sự phân tách giữa nghĩa vụ và thể thức nghe ra có vẻ cao siêu, nhưng áp dụng vào trường hợp thực tế rất mạch lạc: qua khế ước người ta đã mua được quyền tài sản, tòa án chỉ hối thúc các bên hoàn tất mọi thể thức để quyền tài sản đó được xác lập một cách trọn vẹn mà thôi.

Quả là cuộc cải cách ở Việt Nam chỉ có thể được đẩy xa hơn nữa, nếu người nước ta yêu mến sở hữu tư nhân và hết lòng bảo hộ cái giá trị giản đơn, song thiêng liêng đó. Nó giản đơn, vì một chút của riêng tư làm người ai chẳng muốn; nó thiêng liêng vì quyền tài sản tư là động lực ganh đua của mọi giống người, ơn sự ganh đua khốc liệt đó mà mọi nguồn tài nguyên khan hiếm của quốc gia được sử dụng có hiệu quả, xã hội được văn minh. Thay đổi cách nhìn nhận về sở hữu, gia tăng bảo hộ quyền tài sản tư nhân của người dân là một định hướng mà người nước ta nên quan tâm ./.

>> Tham khảo ngay: Nên hay không nên quy định thủ tục "hòa giải ở cấp cơ sở" trong giải quyết tranh chấp đất đai?

4. Nguyên nhân ách tắc trong giải quyết tranh chấp đất đai ?

Luật Đất đai năm 2003 quy định, việc giải quyết tranh chấp đất đai phải qua hòa giải tại UBND cấp xã đương sự mới có quyền khởi kiện đến Tòa án. Quy định này qua nhiều năm thi hành vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể, nên có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, gây cản trở, ách tắc trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai.

Theo quy định tại các Điều 135 và 136 của Luật Đất đai, khi xảy ra tranh chấp đất đai nhất thiết phải qua hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn (UBND cấp xã) nơi có đất tranh chấp. Chỉ sau khi UBND cấp xã đã tiến hành hoà giải mà một hoặc các bên đương sự không nhất trí mới được phép khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết (nếu tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án). Triển khai thi hành Luật Đất đai 2003, ngày 22.7.2004 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 116/2004/KHXX hướng dẫn: kể từ ngày 1.7.2003, Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí và khởi kiện đến Toà án. Trong trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện mà tranh chấp đó chưa qua hoà giải tại UBND cấp xã, thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự. Với quy định này, thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai trong hơn hai năm qua đã phát sinh những vướng mắc chưa được tháo gỡ.

Thực tế, có trường hợp sau khi nhận được đơn yêu cầu của đương sự, để tiến hành hòa giải, UBND cấp xã đã triệu tập nhiều lần nhưng người bị kiện cố tình trốn tránh không đến, nên không thể tiến hành hòa giải được. Trong trường hợp này, có nơi UBND cấp xã vẫn tiếp tục triệu tập người bị kiện để tổ chức hòa giải bằng được, cho dù vi phạm thời hạn hòa giải (trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận đơn). Nhưng cũng có nơi lại lập biên bản ghi nhận về việc không thể tiến hành hòa giải được để giao cho đương sự nộp đơn khởi kiện ra Tòa án. Đến giai đoạn khởi kiện, khi người khởi kiện nộp đơn đến Tòa án, có Tòa án chấp nhận biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do UBND cấp xã lập để thụ lý đơn khởi kiện của đương sự, nhưng cũng không ít Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện vì căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự, cho rằng tranh chấp chưa được hòa giải tại cấp xã, chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Nguyên nhân ách tắc trong giải quyết tranh chấp đất đai

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1940

Trong thực tế, thông thường người bị kiện luôn tìm mọi cách để đối phó, nhằm lẩn tránh việc giải quyết tranh chấp, trong khi đó pháp luật không có quy định về việc áp giải người bị kiện đến để tham gia hòa giải. Do đó, nếu người bị kiện cố tình trốn tránh đến cùng việc tham gia hòa giải thì tranh chấp sẽ không bao giờ được giải quyết. Trường hợp này, việc các Tòa án đòi hỏi nhất thiết phải có biên bản hòa giải tại UBND cấp xã mới thụ lý vụ án là quá máy móc. Pháp luật về giải quyết khiếu kiện hành chính, giải quyết tranh chấp lao động đều có quy định: trong trường hợp đơn khiếu nại không được giải quyết, hoặc tranh chấp lao động không được hòa giải tại cơ sở trong thời hạn pháp luật quy định thì người khiếu nại, các bên tranh chấp có quyền khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu giải quyết. Ngay trong Bộ luật Tố tụng dân sự cũng quy định, trường hợp bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được để làm cơ sở đưa vụ án ra xét xử, không nhất thiết phải tiến hành hòa giải. Vì vậy, không nên vận dụng cứng nhắc, cứ phải có biên bản hoà giải mới thụ lý đơn khởi kiện. Nếu người khởi kiện cung cấp được biên bản của UBND cấp xã về việc không tiến hành hòa giải được vì bên bị kiện cố tình vắng mặt và các tài liệu về việc UBND cấp xã đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, mà người bị kiện vắng mặt thì Tòa án vẫn thụ lý vụ án để giải quyết.

Một vấn đề nữa là theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai thì “UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai”. Trong thực tế, đã có những tranh chấp đất đai mà UBND cấp xã đã tiến hành hoà giải nhưng thành phần hòa giải không có cán bộ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hoặc không có cán bộ của các tổ chức thành viên của Mặt trận, nên Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, thậm chí là đã thụ lý vụ án vẫn cứ yêu cầu UBND cấp xã phải hòa giải lại cho đúng thành phần, vì sợ rằng cấp phúc thẩm sẽ huỷ án sơ thẩm. Trước yêu cầu phải hoà giải lại, có nơi UBND cấp xã chấp nhận tổ chức hòa giải, nhưng nhiều nơi, UBND cấp xã từ chối việc hòa giải lại vì cho rằng tranh chấp đã được hòa giải. Cứ như thế, việc tranh chấp bị “treo” mãi.

Thiết nghĩ, trong điều kiện sự am hiểu và nắm bắt pháp luật của cán bộ cấp xã còn hạn chế, pháp luật lại quy định thời hạn 30 ngày phải tiến hành việc hòa giải, nên việc có đủ các thành viên của Mặt trận tham gia hòa giải là rất khó. Do đó, Tòa án không nên cứ nhất thiết đòi hỏi mọi thủ tục hòa giải ở cấp xã, để rồi đẩy các tranh chấp đất đai vào vòng luẩn quẩn, trong khi tranh chấp đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời.

>> Tham khảo ngay: Việc hòa giải tranh chấp đất đai còn nhiều bất cập

5. Tư vấn về thủ tục pháp lý vụ án dân sự tranh chấp đất đai ?

Kính gửi luật minh khuê,tôi đang có 1 vụ kiện tranh chấp đất đai mong muốn luật minh khuê tư vấngiúp tôi, cụ thể sự việc là như sau :
1. Vợ chồng tôi có mua 1 miếng đất nông nghiệp ở tp. Phan rang và đã đượccấp giấy chứng nhận qsdđ. Nguồn gốc đất là của bà ngoại vợ tôi, bán lại cho tôi.
2. Trước khi, bà ngoại bán miếng đất cho vợ chồng tôi thì bà ngoại có chongười cậu tên khoa là con ruột của bà ngoại sự dụng 1 phần diện tích đấtlàm cơ sở rửa xe.
3. Sau khi bán miếng đất cho tôi thì tôi yêu cầu anh khoa trả lại diện tíchđất đang sử dụng thì anh khoa không đồng ý trả. Chính vì vậy tôi đã làm đơnkiện anh khoa vào 25/02/2016.
4. Ubnd địa phương đã hòa giải không thành vào ngày 27/02/2016 và chuyển đơnlên tòa án thành phố phan rang - tháp chàm.
5. Sau khi tòa án thành phố prtc thụ lý vụ án vào tháng 06/2016 thì anh khoacó đơn phản tố yêu cầu hủy giấy chứng nhận qsdđ của tôi nên tòa án thànhphố prtc đã chuyển vụ án lên tòa án tỉnh ninh thuận.
6. Sau khi tòa án tỉnh ninh thuận làm thủ tục và ra quyết định thụ lý vụ ánvào tháng 03/2017 thì tới tháng 05/2017, anh khoa làm đơn kiện bà ngoại vềnguồn gốc đất, anh khoa cho rằng miếng đất đã bán cho tôi là miếng đất củahợp tác xã địa phương chia cho gia đình theo đầu người để làm nông, anhkhoa có phần trong đó nên bà ngoại không có quyền bán vì chưa có ý kiến củaanh khoa. Thực tế, vào năm 2010, nhà nước có phóng đường ngay giữ miếng đất của bàngoại chia miếng đất thành 2 phần, phần phía bắc, bà ngoại đã bán cho ngườita và chia cho mỗi người con 90 triệu (anh khoa đã nhận tiền), số tiền cònlại bà ngoại trả nợ ngân hàng do làm nông thua lỗ. Miếng đất phía nam là miếng đất bán cho tôi và được các anh em trong giađình đồng ý cho mẹ (bà ngoại) sở hữu để bán kiếm tiền khi về già, thỏathuận của các anh em trong gia đình là thỏa thuận miệng. , không có giấy tờ.
7. Tới ngày 12/09/2017, tòa án tỉnh ninh thuận yêu cầu tôi bổ sung hồ sơtheo thông báo thụ lý vụ án bổ sung, thời hạn là 15 ngày. Ngày 26/09/2017,tôi có nộp bổ sung hồ sơ là các tờ khai của các người con của bà ngoại vàlời khai giải trình nguồn gốc đất và sự việc năm 2010 như đã nêu ở trên củabà ngoại. Tính tới nay là gần 2 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ bổ sung, tôi không thấythông báo gì của tòa án tỉnh ninh thuận. Xin tư vấn giúp tôi giờ tôi phải làm sao. Nên làm gì tiếp theo. Vì tôi cónghe thông tin là anh khoa có hành vi "chạy án" nên tôi rất lo lắng ảnhhưởng tới vụ án và quyền lợi hợp pháp của mình. ?
Mong sớm nhận được phản hồi của luật minh khuê. Chân thành cảm ơn.
- Bảo Vinh Trịnh

6. Luật sư tư vấn và giải đáp những vấn đề pháp lý về tranh chấp đất đai ?

Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp những vấn đề pháp lý về tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành:

Luật sư tư vấn và giải đáp những vấn đề pháp lý về tranh chấp đất đai ?

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chứng tôi. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Kính gửi: Văn phòng luật Minh Khuê, Em đang có một khúc mắc về vấn đề tranh chấp đất đai mà không biết hỏi ai, em tra thông tin trên mạng và được biết đến văn phòng luật Minh Khuê, do vậy em viết mail này mong được văn phòng luật tư vấn giúp em. Bố chồng em có một mảnh đất ở quê do ông bà để lại. Sau khi nhận thừa kế, bố chồng em đã làm sổ đỏ mang tên của mình. Sau này thoát ly cả nhà em sinh sống ở nơi khác. Ngôi nhà ở quê hiện đang để cho bà nội và cô út ở. Do đang cần tiền để làm một số việc, bố chồng em định bán mảnh đất ở quê đi thì mới được biết là sổ đỏ đã bị em gái của bố chồng em ( không phải cô đang ở cùng bà nội) mang đi cắm ở tiệm cầm đồ là 150 triệu. Bố chồng em có nói chuyện với cô này thì cô ấy nói có việc cần tiền nên mượn tạm. Bố chồng em yêu cầu cô phải lấy ngay sổ đỏ về, nhưng cũng phải hơn một năm rồi mà cô ấy vẫn không trả sổ đỏ cho nhà em và kêu là không có khả năng thanh toán tiền cho bên cầm đồ. Nhà em có liên hệ với bên cầm đồ thì bên đó trả lời là nhà em phải trả hết tiền gốc là 150 triệu và tiền lãi từ hồi cô ấy mượn thì mới trả sổ đỏ. Giấy tờ mượn tiền là do cô ấy ký vay, giữa bố chồng em và cô ấy cũng không có giấy tờ ký kết gì về việc mượn sổ đỏ hay giấy tờ gì về tiền nong cả. Sau một thời gian tranh chấp, bên cho vay tiền yêu cầu nhà em phải trả tiền nếu không sẽ đến tịch thu nhà. Em không biết trong trường hợp này gia đình nhà em phải làm như thế nào. Mong văn phòng luật tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn! Em Hạnh.

Theo quy định tại Điều 326 Luật tố tụng dân sư 2015

Điều 326. Cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Trong trường hợp này của bạn

NHư vậy theo quy định trên thì bạn có thể yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu vì cô của bạn không có quyền sở hữu mảnh đất này lên không có thẩm quyền được mang quyền sử dụng đất của bạn đi cầm cố và theo quy định của BLDS

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

> Khi tòa tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hai bên trả lại những gì đã nhận của nhau cô bạn phải trả lại tiền cho người ta và nhận lại sổ đỏ

Chào luật sư! Tôi xin hỏi ý kiến luật sư về trường hợp như sau: Ông ngoại tôi khai hoang đất đai từ năm 1985, năm 1998 ông ngoại tôi để lại di chúc cho người con trai út trong đó có quyền sử dụng mảnh đất. Và năm 2002, cậu tôi làm giấy chứng nhận QSDĐ. Đến năm 2008 cậu tôi có bán 1560m2 diện tích đất cho ông A. Và đến nay (2016), khi cần vay tiền cậu tôi mới xem lại sổ đỏ đất thì mới phát hiện diện tích đất trong sổ đỏ bị thiếu. Qua quá trình xin những giấy tờ photo của thửa đất hiện nay cậu tôi đang đứng tên tại phòng tài nguyên huyện thì gia đình chúng tôi phát hiện có người đã giả chữ ký của ông ngoại tôi vào năm 2008 để làm hồ sơ mua bán và chuyển quyền sử dụng số đất bị thiếu hụt đó. Trong khi Quyền sử dụng đất đó đứng tên của cậu tôi và chữ ký ông ngoại tôi là giả ,mà cơ quan chức năng vẫn làm hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác. Vậy luật sư tư vấn giùm tôi, cán bộ làm hồ sơ và người giả chữ ký của ông ngoại tôi để làm giả giấy tờ mua bán đã phạm những tội gì? Điều nào? Và tôi có thể làm đơn đến cơ quan nào để khiếu nại.

TRường hợp này của ban bạn có thể tố cáo ra cơ quan công an gần nhất người đã giả mạo chữ ký của ông ngoại bạn theo quy định tại Điều 267 BLHS

Điều 267. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bốn năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Nếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người đó sẽ bị truy cứu theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

ông A có diện tích đất nông nghiệp cho ông B là em trai mượn canh tác từ cuối năm 2012 đến tháng 10/2015.UBND huyện có thu hồi diện tích đất để xây dựng.trụ sở.khi trích đo hiện trạng thì thấy ông B canh tác nên có tên ông B trong danh sách công khai theo trình tự quy trình thu hồi đất.khi đó ông A đến gặp UBND xã để khiếu nại.qua kiểm tra hồ sơ địa chính.gia đình ông A đã kê khai đăng ký quyền sử dụng đất từ năm 2002 và có tên trong sổ địa chính,và sổ thu thuế của hợp tác xã là tên ông A.nhưng chưa được cấp GCNQSDĐ.còn ông B không có loại giấy tờ gì.kể cả bản kê khai đăng ký quyền sử dụng đất cũng không có diện tích thửa đất đó.trên cơ sở hồ sơ địa chính.UBND xã làm hồ sơ đền bù GPMB cho ông A : -Như vậy có đúng k. -Hiện nay ông B kiện hành vi hành chính của UBND xã là gi danh Ong A vào hồ sơ địa chính là thiếu cơ sở pháp lý có đúng k.có đủ điều kiện để tòa Án thụ lý không. (ông A và ông B là anh em ruột cho nhau mượn k co giấy tờ cho mượn,ông B là cán bộ về hưu k co ai trưc tiếp san xuât nong nghiệp)

Trả lời:

TRong trường hợp của bạn thì nếu ông A có đầy đủ các giấy tờ và có tên trên sổ địa chính và chỉ đợi được cấp giấy chứng nhận quyền sửu dụng đất thì như vậy ông A Sẽ được nhà nước bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp,. Tuy nhiên nếu ông A cho e, rãi của mình là ông A sử dụng mảnh đất để canh tác thì ông B sẽ được nhà nước bồi thường về chi phí đầu tư trên đất nếu có theo quy định tại Điều 77 Luật đất đai 2013.

Điều 77. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này.

Em đang làm việc tại Công ty TNHH MTV cà phê Đắk Nông khi em vào làm việc tại DN thì có được tạo điều kiện cho thuê đất để làm vườn ở thông qua hợp đồng giao nhận khoán với giá là 600đ/m2. Nhưng hiện tại đất này đã được trả về địa phương để quy hoạch đất nhà ở cho người dân. Trước khi trả về địa phương quản lý thì có người dựng nhà trên đất vì thế em chưa làm nhà được và cũng làm đơn tố cáo hành vi người dân lấn chiếm đất thuộc QS hữu của em tới chính quyền địa phương (UBND xã, CA xã, CA đồn, UBND huyện, CA Huyện) nhưng đến nay vẫn không giải quyết được giúp em (Thời điểm em bị lấy chiếm đất là ngày 11/3/2014 cho đến nay). Mặc dù Cán bộ địa chính, CA đồn, CA xã cùng với Công ty em đã xác minh hiện trạng vụ việc trên và có ra biên bản nhưng đến nay em vẫn không lấy lại được đất trên. Bên cạnh đó Địa chính xã vẫn đo đạc và đăng ký QSD đất đó mang tên em và cả tên người lấy chiếm và dựng nhà trên đất em thuê khoán trên. Vậy anh chị cho em hỏi làm thế nào để em lấy lại được quyền SDĐ trên. Em xin chân thành sự giúp đỡ của quý anh chị.

TRường hợp này của bạn là tranh chấp về đất đai và theo quy định của pháp luật thì tranh chấp đất đai được giải quyết thông qua hòa giải và khởi kiên tại Tòa án. Như vậy bạn làm đơn ra các cơ quan đó để được giải quyết là đúng. Tuy nhiện nếu họ không giải quyết thì bạn có thể khiếu nại trực tiếp đến họ và nếu không hòa giải được thì bạn có thể gửi đơn khởi kiện đến toán án nhân dân để được giải quyêt

Ban căn cú vào các quy định sau đây để bảo vệ quyền lợi của mình

Điều 202 Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203 thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

kính gửi luật sư đoàn: vào năm 2011 tôi có mua 1 miếng đất ở Long An và đã có chủ quyền nhưng bây giờ có nguồn tin cho biết rằng . _ Miếng đất nay đang có tranh chấp ( trong giòng tộc chủ cũ) _ Miếng đất này nếu có bán cũng không bán được do đang có tranh chấp. _ Nếu giòng tộc chủ cũ thắng kiện thì chính quyền sẽ thu hồi & xóa bỏ giấy chủ quyền của tôi., đây là những điều làm tôi băn khoăn rất mong được sự giải thích của quý đoàn

Theo quy định của pháp luật đất đai

Điều 188 Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi chuyển nhượng , cho thuê, cho thuê lại thừa kế tặng cho thế chấp quyền sử dụng đất góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

> NHư vậy nếu đất đang có tranh chấp sẽ không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Kính gửi công ti luật minh khuê. Gia dinh tôi có một mảnh đất đã bán từ năm 2010. Người mua đã trả trước 10 trieu đồng. Số tiền còn lại hẹn 1 tháng sau sẽ trả hết. Nếu không trả thì sẽ vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên trong giấy tờ mua bán lại khong nói rõ việc đó. Do thời gian đã 5 năm bên mua không trả hết tiền nên gia đình tôi đã bán mảnh đất đó cho người khác. Nay bên mua lại đến đòi lại đất. Xin hỏi công ty luật minh khuê là vời trương hợp này gia đình tôi phải giải quyết như thế nào. Xin chan thanh cam on!

Trường hợp này cần phải căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng và cụ thể hai bên thảo thuận phạt vi phạm như thế nào . Nếu giữa bạn và bên mua ban đầu đã có 1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bạn phải có nghĩa vụ thực hiên đúng hợp đồng . Nếu bên mua vi phạm thì bạn có thể khởi kiện đến tòa án để yêu cầu bên mua trả tiền đúng như theo hợp đồng hoặc thực hiện đúng như theo thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng nếu có. Nên nếu bạn không giải quyết được hợp đồng trước đó thì bạn không thể ký tiếp hợp đồng mới với cùng đối tượng như vậy . nên có thể bạn sẽ bị khởi kiện. Tuy nhiên theo quy định của BLDS thì thời hạn giải quyết tranh chấp về các hợp đồng dân sự là 2 năm kể từ khi bên bị vi phạm biết được hành vi vi phạm của bên có quyền. Nên nếu bạn không khởi kiện bên bạn bán cho lần đầu thì bây giờ bạn đã hết thời hiệu để khởi kiện theoquy định của BLTTDS

Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu được quy định như sau:

a) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm;

b) Thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.

Và mảnh đất đó sẽ thuộc sở hữu của bên mua.và hợp đồng chuyển nhượng thứ hai của bạ sẽ bị tuyên vô hiệu và bạn phải trả lại tiền đồng thời nhận lại đất trả lại cho bên mua nếu các bên không có thảo thuận khác.

Em tên là trương thị yến kiều ở Long Thạnh-Giồng Riềng-Kiên Giang -cho em xin hỏi: ông bà ngoại chết sớm còn lại 3 chị em của mẹ em nhưng 2 chị em của mẹ em cũng đã có chồng cách đây 40 năm để lại một mình mẹ em ở phần đất đó 40 năm rồi nhưng mẹ em chưa làm sổ đỏ bây giờ mấy gì lại nhà đồi chia đều ra làm 4. vậy anh chị cho em hỏi phần đất đó có chia được hay là không?? tại sao?? em xin cảm ơn ạ!!

Theo quy định của pháp luật nếu ông bà ngoại bạn mất mà để lại di chúc cho mẹ bạn toàn bộ mảnh đất đó thì mẹ bạn có quyền hưởng. Nếu ong bà bạn không để lại di chức thì di chức sẽ được chia theo pháp luật theo quy định

Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

về thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế, theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: "Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế..."

Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn thì:


- Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:


+ Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.


+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.


+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.


- Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Như vậy, để có thể phân chia di sản thừa kế này thì cần phải có sự đồng ý của tất cả các đồng thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc các thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Khi đó, di sản này sẽ được chuyển thành tài sản chung của các thừa kế và được giải quyết như quy định nêu trên.

> như vậy nếu mẹ bạn không đồng ý thì di sản thừa kế cũng không được chia

nha toi xay dung vao nam 1991 .cap so do nam 2002 .trong so do de 5,4m .nhung dat thuc te cua toi 5,9 .nha ben canh trong so do 5,4m nhung thuc te chi co 4,9m .ho doi lay lai dat cho du dien tich trong so do .vay gia dinh toi phai lam sao

Như vậy nếu có nhầm lẫn về đất đai thực tế thì hai bên có thể nhờ cơ quan địa chính để xem lại giấy tờ hồ sơ địa chính để xác định cụ thể diện tích đất. Nếu đúng là diện tích đất của nhà bạn trên hồ sơ địa chính và sổ đỏlà 5,4 m mà thực tế gia đinh bạn đang sử dụng là 5,9 m thì gia đình nhà bạn phải trả lại đất cho nhà họ.

Xin chào luat su. Cho toi hoi luat tranh chap dat dai cua toa an thoi gian bao lau giải quyet ra tòa. Toi có khởi kiện viec tranh chap đất đai Tối có mua lô đất có đầy đủ pháp lý có sổ quyền sử đất. Trên lô đất Tôi mua có người em ruột người bán ở. Người bán xin cho ở thời gian sắp xếp. Khi đến thời hạn người ở không chịu dời. Và Người bán cho tôi nó có bán cho người em rồi , đòi trả tiền lại tôi không chịu, tôi có khởi đơn khởi tại tòa án nay được ba năm rưởi ?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 203 và khoản 4 Điều 203 BLTTDS 2015

Điều 203 Thời hạn chuẩn bị xét xử

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

NHư vậy nếu bạn đã gửi đơn đến tòa án mà hơn 3 năm nay rồi bạn chưa được giải quyết thì bạn có thể làm đơn khiếu nại gửi trực tiếp đến tòa án

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc gì về ý kiến tư vấn xin hãy liên hệ với tổng đài 1900.1940 để được tư vấn trực tiếp hoặc bạn có thể liên hệ với gmail :

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh KHuê