Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê, sau đây xin được tư vấn cho chị như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Luật đất đai năm 1993

- Luật đất đai năm 2003

- Luật đất đai năm 2013

- Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

2. Nội dung phân tích

Đối với trường hợp đất của ông A là đất được giao sau khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực, theo quy định tại Điều 20 Luật đất đai năm 1993 thì thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm. Tiếp đó theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật đất đai năm 2003 thì thời hạn giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 70 của Luật này là hai mươi năm.

Như vậy, tính từ tháng 1/1994 đến tháng 1/2014 diện tích đất được giao cho gia đình ông A đã hết thời hạn sử dụng theo quy định của Luật đất đai năm 2003, nếu gia đình ông A có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và phải thực hiện việc gia hạn sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của Luật đất đai năm 2013.

Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 thì có một số thay đổi về thời hạn giao đất và hạn mức giao đất như sau: 

Điều 126 Luật đất đai năm 2013 quy định như sau:

“1. Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm. Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại khoản này.”

Thời hạn giao đất, cho thuê đất quy định tại Điều này được tính từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2013 quy định về hạn mức giao đất như sau:

“1. Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp như sau:

a) Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;

b) Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác”.

Trường hợp của gia đình ông A là đã sử dụng đất nông nghiệp vượt quá hạn mức trước ngày Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành (01/07/2014) thì phải chuyển sang thuê đất theo quy định tại khoản 8 Điều 210 Luật đất đai năm 2013: "8. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng diện tích đất nông nghiệp được giao vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì phải chuyển sang thuê đất theo quy định của Luật này". Theo đó, đối với diện tích đất thuộc hạn mức được giao theo quy định của pháp luật thì gia đình ông A vẫn tiếp tục gia hạn bình thường, còn đối với diện tích đất vượt hạn mức thì phải chuyển sang thuê đất và trả tiền thuê đấttheo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị định 46/2014/NĐ-CP thì việc thuê đất được thực hiện như sau:

"1. Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trong các trường hợp sau đây:

b) Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai".

Về việc xác định tiền thuê đất được quy định cụ thể tại Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê