Trong bản chia đất đó cụ tôi chia cho 4 người con trai mỗi người một phần đất riêng và một phần đất có ghi rõ 110 m2 dùng làm ngõ đi chung cho 4 anh em không ai được sử dụng. Bây giờ nhà hàng xóm (là cháu của người con trai cả của cụ tôi) đã mua lại hai phần đất còn lại của 2 người con kia, năm 2012 UBND xã đã làm sổ đỏ cho gia đình nhà hàng xóm đó bao gồm cả diện tích 110 m2 đó. Hiện tại nhà hàng xóm đó đang xây hết tường rào chặn hết ngõ đi nhà tôi lại, bên dưới phần ngõ đi còn có ống nước thải sinh hoạt của nhà tôi, ngõ đi đó gia đình còn sử dụng làm nối đi ra 1 khu vườn nữa cũng được cấp sổ đỏ là đất vườn. Khi gia đình nhà tôi khiếu nại xuống chính quyền UBND để đòi lại ngõ đi đó thì cán bộ địa chính nói "Đã có sổ đỏ không giải quyết được" và còn nói bản chia tài sản mà cụ tôi để lại chung chung quá không có giá trị. Khi nhà hàng xóm xây tường rào chặn ngõ đi nhà tôi thì tôi lại phá, Ủy ban lại cho Công an viên nên lập biên bản nhà tôi. Vậy tôi xin hỏi ý kiến tư vấn của Luật sư liệu gia đình nhà tôi có thể đòi lại phần ngõ đi đó được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.
Kính thư        
Người gửi: Trung

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số:  1900 6162

 

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005.

Bộ luật Hình sự năm 1999.

Luật Đất đai năm 2013.

Nghị định 73/2010/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội.

2. Nội dung phân tích:

Điều 652 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 652. Di chúc hợp pháp  

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. 

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực."

Như vậy, nếu di chúc của cụ bạn để lại đáp ứng được các điều kiện quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự thì di chúc đó là di chúc hợp pháp.

Điều 108 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 108. Tài sản chung của hộ gia đình  

Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ."

Theo như bạn trình bày thì  "Năm 1949 cụ nhà tôi có để lại một bản chia tài sản (có cả dấu và chứng thực của chính quyền xã hồi đó)" trong đó có 110 m2 dùng làm ngõ đi chung cho 4 anh em không ai được sử dụng. Theo quy định tại điều 108 Bộ luật Dân sự thì đó là tài sản chung của hộ gia đình, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung này phải theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật. Khi UBND xã cấp sổ đỏ cho người kia mà không xác định đất đó có giấy tờ hay có tranh chấp không là trái với quy định của Luật Đất đai.

Ngoài ra điều 270 đến điều 278 Bộ luật Dân sự thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu người đó cho mình quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề.

Nếu bạn không thỏa thuận được với người đó và người đó vẫn cố tình chặn ngõ đi chung thì bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện đòi lối đi chung.

Về vấn đề khi hàng xóm xây hàng rào chặn lại ngõ thì bạn lại phá là đã vi phạm quy định của pháp luật tùy theo thiệt hại mà bạn sẽ bị phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự:

Điều 18 Nghị định 73/2010/NĐ-CP quy định:

"Điều 18. Hành vi gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau:

a) Trộm cắp tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

đ) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác như chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Gây mất mát, hư hỏng hoặc làm thiệt hại tài sản của Nhà nước được giao trực tiếp quản lý nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

d) Gian lận hoặc lừa đảo trong việc môi giới, hướng dẫn giới thiệu dịch vụ mua, bán nhà, đất hoặc các tài sản khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

đ) Mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản có do vi phạm pháp luật mà có nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

e) Chiếm giữ trái phép tài sản của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện đối với hành vi quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1; điểm c, đ, e khoản 2 Điều này.

4. Người vi phạm tại điểm a, b, c khoản 1; điểm a, b, c, d, e khoản 2 của Điều này còn phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra."

Điều 143 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê