Tôi muốn hỏi đây căn cứ vào điều bao nhiêu của bộ luật nào? Hàng xóm xây nhà mặt đường 4,5m trong đó đất nhà tôi =1.3m nhà 2 tầng kiên cố. Gia đình tôi vẫn muốn đòi đất, dù tiền bồi thường bao nhiêu cũng không lấy? Như vậy có đúng không? Xin trân trọng cảm ơn

Người gửi: H.T.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn đòi đất chứ không nhận tiền bồi thường đất ?

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật đất đai 2013

Nghị định 102/2014/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

Luật Nhà ở 2014 

2. Luật sư tư vấn:

Theo Khoản 1, Điều 12 Luật đất đai 2013 quy định: những hành vi bị nghiêm cấm:

“1. Lấn chiếm, hủy hoại đất đai.”

Theo Điều 202, Luật Đất đai 2013 quy định: Hòa giải tranh chấp đất đai

"1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Theo Điều 10, Nghị định 102/2014/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai: Lấn, chiếm đất

"1.Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở.

4. Hành vi lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình thì hình thức và mức xử phạt thực hiện theo quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở; trong lĩnh vực về giao thông đường bộ và đường sắt; trong lĩnh vực về văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; trong lĩnh vực về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng, chống lụt, bão và trong các lĩnh vực chuyên ngành khác.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;

b) Buộc trả lại đất đã lấn, chiếm đối với hành vi quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này."

Theo Điều 92, Luật Nhà ở 2014 quy định: Các trường hợp nhà ở phải phá dỡ

"1. Nhà ở bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ, không bảo đảm an toàn cho người sử dụng đã có kết luận kiểm định chất lượng của cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh nơi có nhà ở hoặc trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai.

2. Nhà ở thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật này.

3. Nhà ở thuộc diện phải giải tỏa để thu hồi đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4. Nhà ở xây dựng trong khu vực cấm xây dựng hoặc xây dựng trên đất không phải là đất ở theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

5. Nhà ở thuộc diện phải phá dỡ theo quy định của pháp luật về xây dựng."

Thứ nhất, về vấn đề nhà hàng xóm không buộc bị phá dỡ diện tích nhà đã xây trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn bồi thường cho gia đình bạn đối với phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn bị lấn chiếm.

Tranh chấp về đất đai giữa gia đình bạn và nhà hàng xóm đã xây nhà trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng của gia đình bạn có thể do hai bên tự hoà giải giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Khoản 1, Điều 202, Luật Đất đai 2013.

Ngoài ra, phần diện tích nhà ở đã được xây trên diện tích đất thuộc quyền sử dụng của bạn không thuộc các trường hợp nhà ở phải phá dỡ theo Điều 92, Luật Nhà ở 2014.

Như vậy, giải đáp trước đấy cho trường hợp của gia đình bạn có nghĩa là hai bên tranh chấp đất đai có thể tự hoà giải với nhau hoặc thông qua hòa giải ở cơ sở về việc gia đình hàng xóm kia không bắt buộc phải tháo dỡ nhà, và phía gia đình bạn sẽ lấy tiền bồi thường diện tích đất đai của gia định bạn bị lấn chiếm.

Thứ hai, về việc gia đình bạn muốn đòi lại đất và không chấp nhận lấy tiền bồi thường.

Trước hết, Xây dựng nhà ở trên phần đất thuộc quyền sử dụng của người khác là hành vi lấn chiếm đất đai, vi phạm quy định của pháp luật (theo Khoản 1, Điều 12 Luật đất đai 2013), có thể bị phạt tền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất ở  và buộc phải trả lại đất đã lấn chiếm (theo khoản 3 và khoản 5,  Điều 10, Nghị định 102/2014/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai). Do đó, việc gia đình bạn muốn đòi lại diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mình và không chấp nhận tiền bồi thường là đúng với quy định của pháp luật.

Tuy nhiên như đã phân tích ở trên vì gia đình ông A đã xây nhà trên đó nên việc có phải tháo dỡ hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và quyết đinh của Tòa án sau khi xem xét tình hình cu thể. Có thể không phải tháo dỡ khi không thuộc trường hợp theo Điều 92 Luât nhà ở 2014 như đã trích dẫn ở trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. 

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách qua tổng đài tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê