Đến năm 2014 bà ngoại mới lôi giấy mua bán viết tay ra Trưởng ấp xác nhận và UBND xã xác nhận năm 2014. Bà ngoại cho rằng mua đất là tiền của bà và mượn của ông bác bên Mỹ, có giấy gửi tiền từ Mỹ về. Nhưng đến nay là năm 2015. Cha tôi đòi ly hôn với mẹ tôi, và đòi chia tài sản chung với mẹ tôi, vì cho rằng đất và nhà là tài sản chung của cha mẹ chứ không phải là tài sản riêng của bà ngoại. Nhưng bà ngoại có yêu cầu độc lập là đòi lại đất vì cho là tài sản riêng của bà ngoại. 

Vậy làm cách nào để bà ngoại đòi lại được tài sản là mảnh đất cho bà ngoại? Những căn cứ mà bà ngoại cần phải chứng minh cho yêu cầu? (Giấy tay viết năm 2001, tổ trưởng xác nhận năm 2014 có còn giá trị pháp lý không, và giấy biên lai gửi tiền từ Mỹ). Ngoài ra còn cần thêm những chứng cứ nào chứng minh để bà ngoại đòi lại đất?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: T.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn đòi lại nhà đất đã bán cho con rể ? 

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi thắc mắc về cho Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật đất đai 2013 

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011

2. Nội dung phân tích:

Theo những gì bạn đã đề cập ở nội dung câu hỏi, bà ngoại bạn với bố bán đất chỉ viết tay khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng đến năm 2014 giấy viết tay ấy đã được Trưởng ấp và UBND xã xác nhận. Hay nói cách khác, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai người đã được hợp pháp hóa, do đó việc bố bạn đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng đã được công nhận.

Trước hết, bà ngoại bạn và bố bạn có thể tự thỏa thuận hòa giải với nhau về tranh chấp quyền sử dụng đất. Nếu hai bên không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải (Khoản 2 Điều 202 Luật đất đai 2013).

Nếu sau khi tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại UBND xã mà không thành thì được giải quyết như sau căn cứ vào Điều 203 Luật đất đai 2013:

"Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Trong trường hợp không cách nào khác bà ngoại bạn phải làm đơn khởi kiện ra Tòa án thì sẽ tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự. Theo đó, bà bạn cần xuất trình các tài liệu, chứng cứ để chứng minh bà ngoại bạn là người có quyền sử dụng đất hợp pháp chứ không phải bố của bạn. Căn cứ theo Điều 82 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011:

"Điều 82. Nguồn chứng cứ

Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;

2. Các vật chứng;

3. Lời khai của đương sự;

4. Lời khai của người làm chứng;

5. Kết luận giám định;

6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;

7. Tập quán;

8. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;

9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”

Bên cạnh tờ giấy viết tay đã được xác nhận bởi cơ quan có thẩm quyền và giấy biên lai gửi tiền từ Mỹ, bà ngoại của bạn có thể thu thập chứng cứ từ các nguồn trên để có đầy đủ cơ sở pháp lý yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Ngoài những chứng cứ xác minh kèm theo, bà ngoại bạn cần làm đơn khởi kiện quy định tại Điều 164 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011:

"Điều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng.”

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email luatsu@luatminhkhue.vn hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900 6162.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê