Hiện nay, tôi đã làm thủ tục tục xin cấp phép xây dựng và chuẩn bị triển khai thi công làm nhà thì hộ ông A đã làm đơn gửi lên chính quyền khiếu nại việc tổng chiều rộng 2 lô đất của tôi và của ông A là 9,9m, không đúng với kích thước trong bìa đỏ là 11,8m. Hai bên lô đất của tôi và của ông A đã xây nhà kiên cố. Theo đó, địa chính phường đã tiến hành đo đạc và lập biên bản tạm dừng công tác thi công của gia đình tôi và bảo sẽ tiến hành định vị lại toàn bộ các lô đất trong khu vực để xác định nguyên nhân.

Luật sư cho tôi được hỏi các nội dung như sau:

1. Nếu xác định được các hộ dân đã xây dựng sai vị trí hoặc lấn chiếm thì theo pháp luật, trường hợp thiếu kích thước trên thực tế của tôi và của ông A sẽ xử lý thế nào?

2. Nếu tôi không đồng ý giả quyết (thương thảo, đền bù) mà vẫn quyết định xây dựng đúng diện tích của mình thì có hợp pháp không?

3. Thời gian giải quyết tranh chấp là bao nhiêu vì tôi đã chuẩn bị hết các điều kiện để thi công.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: H.M.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật đất đai của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  - 1900 6162

Trả lời:

 

Cám ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi cho văn phòng Luật Minh Khuê chúng tôi, chúc bạn sức khỏe. Với những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Cơ sở pháp luật:

-Luật đất đai 2013

-Luật tố tụng dân sự 2004

-Nghị định 43/2014/ NĐ-CP Hướng dẫn luật đất đai.

Phân tích:

1.Nếu xác định được các hộ dân đã xây dựng sai vị trí hoặc lấn chiếm thì theo pháp luật, trường hợp thiếu kích thước trên thực tế của tôi và của ông A sẽ xử lý thế nào?

- Hiện nay kích thước đo được là 9,9 m thực tế, trên GCN là 11,8 m như vậy nếu xác định sai sót là do cán bộ địa chính khi đo đạc, bạn có thể tiến hành thủ tục quy định trong luật đất đai 2013 như sau:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

- Thủ tục được quy định tại nghị định 43/2014/NĐCP:

Điều 86. Thủ tục đính chính Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp

1. Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót cho Văn phòng đăng ký đất đai để đính chính. Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính.

Trường hợp Văn phòng đăng ký đất đai phát hiện Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót thì thông báo cho người sử dụng đất biết và yêu cầu người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp để thực hiện đính chính.

2. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra; lập biên bản kết luận về nội dung và nguyên nhân sai sót; lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính vào Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót; đồng thời chỉnh lý nội dung sai sót vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.

3. Trường hợp đính chính mà người được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng có yêu cầu cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Văn phòng đăng ký đất đai trình cơ quan có thẩm quyền để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

2. Nếu tôi không đồng ý giải quyết (thương thảo, đền bù) mà vẫn quyết định xây dựng đúng diện tích của mình thì có hợp pháp không?

- Tranh chấp đất đai cần có sự can thiệp giải quyết của cơ quan hòa giải tại cơ sở, nếu hiện nay tình trạng đất là đang có tranh chấp thì về mặt nguyên tắc bạn không được tiến hành xây dựng tiếp vì:

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 có quy định:

Điều 110. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ, vụ việc án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó

3. Thời gian giải quyết tranh chấp là bao nhiêu vì tôi đã chuẩn bị hết các điều kiện để thi công?

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

-> Căn cứ vào quy định nêu trên Uỷ ban Nhân dân xã phường có trách nhiệm hoà giải tranh chấp đất đai, thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn. Nếu UBND phường giải quyết không đùng thời hạn thì bạn có thể làm đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư  vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ emaillienhe@luatminhkhue.vn hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT ĐẤT ĐAI