Năm 2008 thì gia đình bác tôi cắt hộ tịch hộ khẩu chuyển vào Nam lập nghiệp và ở trong đó luôn . Nay gia đình Bác tôi làm ăn thua lổ thì Bác tôi quay về quậy phá gia đình tôi và đòi chia đất mà gia đình ba tôi đang ở . Ba tôi thì từ nhỏ đến lớn ở trên mảnh đất đó và hồi giờ lo làm và thờ cúng ông bà tổ tiên và lo cho ông Bà Nội. Năm 1997 thì ông nội tôi qua đời , Năm 2000 ba tôi làm lại lại số đỏ và hộ tịch hộ khẩu do ba tôi đứng tên (nhưng không có giấy di chúc Ông nội để lại chỉ nói miệng với cậu tôi là cháu của ông nội vì ông nội qua đời đột ngột . Mảnh đất đó hiện giờ gia đình tôi và bà nội đang sinh sống. Năm 2010 thì Ba má tôi đập ra xây cao lên để ở 1 bên thì để thờ cúng còn 1 bên để buôn bán cho sạch sẽ . 

Quay lại vấn đề Bác thì hiện giờ Bác tôi về quậy phá gia đình tôi và Bà Nội tôi đang ở,đòi chia đất. Bác tôi thì nói chung là học hơn Ba tôi dùn lời ăn tiếng ngọt thuyết phục Nội tôi sao đó và " Viết đơn kiện đòi chia 1 phần đất *mà nhà tôi đang buôn bán hàng tạp hóa,trong đơn người kiện chính là Nội tôi kiện Ba tôi đòi chia 1 phần đất đó để cho Bác tôi ở nói chung là người viết đơn và ký đơn là Bà nội tôi kiện Ba tôi mà mấy chục năm nay Ba tôi là người ở với Nội và lo cho bà. Cách đây vài ngày thì Ủy Ban xã kêu Ba tôi lên nói về tình hình kiện đó và Ba tôi khai là từ nhỏ Ba lo làm về đưa tiền cho Ông Nội và Nội mua đất hồi Ba tôi còn nhỏ 15 16 tuổi gì đó và hỏi nhiều vấn đề nữa rồi biểu ba tôi ký tên. 

Luật sư cho tôi hỏi hiện giờ Bà Nội tôi kiện Ba tôi như ihế có được không trong đơn kiện thì bác tôi và 2 người con gái con của Nội tôi cũng ký vào đó ?

Mong luật sư tư vấn giúp.Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai  của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai trực tuyến, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 1995.

Bộ luật dân sự năm 2005

Bộ luật dân sự năm 2015

Nghị định số 04/2000/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật bổ sung Luật đất đai.

2. Nội dung tư vấn:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì ông bạn qua đời năm 1997 không để lại di chúc và chỉ nói lại với cậu bạn. 

Do đó, theo quy định tại điều 654 BLDS 1995 quy định về di chúc bằng miệng như sau:

1- Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản, thì có thể di chúc miệng. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ.

2- Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì di chúc miệng bị huỷ bỏ.

Như vậy, trong trường hợp này di chúc bằng miệng của ông bạn chỉ được coi là hợp pháp nếu như đáp ứng quy định nêu trên.

Vì bạn không cung cấp đầy đủ thông tin nên chúng tôi không thể kết luận di chúc bằng miệng của ông bạn có hợp pháp hay không? Giả sử trong trường hợp di chúc của ông bạn là hợp pháp thì di sản thừa kế mà ông bạn để lại sẽ được chia theo đúng di chúc, nếu di chúc bằng miệng ông bạn cho gia đình bạn mảnh đất trên thì việc kiện đòi lại là không có căn cứ. Còn trong trường hợp di chúc không hợp pháp thì di sản sẽ được chia theo pháp luật và việc đòi kiện lại mảnh đất là có căn cứ.

Còn về vấn đề gia đình bạn đã làm lại sổ đỏ và đứng tên ba bạn năm 2000 thì trong trường hợp này ta phải xét đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ba của bạn có đúng hay không.

Theo quy định tại điều 3 của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật bổ sung Luật đất đai quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau (Vì quan hệ tranh chấp phát sinh trong thời điểm từ năm 1995 đến trước những ngày luật đất đai 2003 có hiệu lực nên chúng tôi trích dẫn một số văn bản đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại để làm căn cứ áp dụng. Khi tranh chấp xảy ra trên thực tế tòa án sẽ căn cứ hồ sơ vụ việc để đưa ra căn cứ áp dụng. Đây là quan điểm áp dụng của văn phòng không có giá trị áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp thực tiễn):

Điều 3. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất (gọi tắt là Nghị định số 17/1999 của Chính phủ), thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nêu tại khoản này mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa có quyết định thu hồi đất để thực hiện quy hoạch đó thì vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng phải chấp hành đúng các quy định về xây dựng. Khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện quy hoạch xây dựng thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được đền bù thiệt hại về đất, tài sản có trên đất theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có các giấy tờ nêu tại khoản 1 Điều này, được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp thì được xem xét để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ nêu tại khoản này mà đất đó nằm trong quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Như vậy, trong trường hợp này nếu như di chúc của ông nội bạn để lại mảnh đất trên cho gia đình bạn và hoặc được UBND xác định là đất sử dụng ổn định, lâu dài và không có tranh chấp thì việc cấp giấy chứng nhận cho gia đình bạn là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Và việc khởi kiện đòi mảnh đất trên là không có căn cứ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê