1. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất trồng rừng ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 1993 cha tôi và chị có nhận chung 1 ha rừng trồng cây theo dự án năm 4304, về thủ tục giấy tờ có đơn xin trồng cây được chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp xác nhận, biên bản giao đất và hợp đồng trồng rừng.

Nhưng trong hợp đồng chỉ một mình chị tôi đứng tên, mãi đến năm 2010 có một hộ khác lấn chiếm đất này phát hiện ra người ta có đơn xin khai hoang được Phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, và Chủ tịch UBND xã xác nhận vào tháng 10/1994 chồng lên diện tích trồng cây 5.000m2.

Như vậy, trường hợp này cho thấy việc xác nhận đơn đi ngõ sau vì từ 1994 mãi đến 2010 mới khai hoang trên đất đã trồng cây của cha tôi. Do đó, tôi xin nhờ luật sư tư vấn và làm thế nào để lấy lại đất đó ? Trình tự thủ tục khởi kiện ra sao để đảm bảo pháp lý, trong khi cha tôi đã mất còn lại mẹ già thôi ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: L.T

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất trồng rừng ?

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin phép được tư vấn như sau:

- Theo Luật đất đai năm 2013

Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Điều 204. Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về đất đai

1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

Điều 205. Giải quyết tố cáo về đất đai

1. Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai.

2. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Như vậy, bạn phải hòa giải ở ủy ban nhân dân xã trước nếu hòa giải không thành bạn có thể khởi kiện lên tòa án để đòi lại đất hoặc tố cáo theo luật tố tụng hành chính.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162 . Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê! Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay: Tư vấn giải quyết tranh chấp đất canh tác trong nội bộ gia đình ?

2. Tranh chấp đất trong gia đình khi anh trai tự động làm sổ đỏ không xin ý kiến ?

Thưa luật sư, gia đình tôi có miếng đất chia cho 2 anh em. Nhưng vì công việc làm ăn tôi không có ở nhà. Anh trai đả tự động làm bài đất tên anh tôi. Nhưng đến khi tôi về nhà bảo anh đưa bìa đất để tôi tách ra. Nhưng anh không đưa bảo là đả xé bìa đất vậy trường hợp trên tôi phải làm gì ạ ?
Cảm ơn.
- Nguyễn Văn Đẳng

3. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất phân lô bán cho ba hộ gia đình ?

Xin chào Luật sư. Xin Luật sư tư vấn cho gia đình tôi một số nội dung về đất đai cụ thể: 1. Năm 2010 gia đình tôi có mua chung một mảnh đất là 280m2 đất trồng cây lâu năm và đã được UBND thành phố cấp bìa đỏ trong tháng 9/2010. Hộ gia đình bên cạnh liền kề (ông Nga) cũng mua với diện tích đất là 352m2, được cấp bìa đỏ vào tháng 12/2010.

Hộ gia đình ồng Oanh mua 522m2 (liền kề với hộ ông Nga) nhưng chỉ mới qua phòng công Chứng năm 2012 chưa có bìa đỏ.

2. Năm 2014 ông Oanh đi làm bìa đỏ và phát hiện thiếu 3m bề ngang đất và có làm đơn kiện nhà ông Nga đất liền kề với gia đình tôi. Từ năm 2014 đến nay gia đình tôi không có liên can gì đến phần đất thiếu hụt của hộ ông Oanh nhưng tòa án có giấy mời triệu tập gia đình tôi lên làm việc. vậy xin hỏi luật sư hộ gia đình nhà tôi và gia đình ông Nga có liên can gì không và có phải trả lại một phần đất cho gia đình ông Oanh hay không xin luật sư cho biết. (03 mảnh đất trên cùng chung 01 chủ đất phân lô bán cho chúng tôi).

Rất mong sự tư vấn của Luật sư. Xin trân thành cảm ơn.

4. Đảng viên tranh chấp đất thì vi phạm điều gì ?

Tôi và ông kiên (đảng viên, trưởng đầu ngành của huyện) có tranh chấp 40m2 đất. Miếng đất này tôi mua của ông cang nhưng không làm giấy tờ. Sau đó, ông kiên mua 1. 031m2 đất của ông cang và làm giấy cnqsdđ là 1. 071m2 đất. Khi tôi phát hiện ra, thì ông kiên không đồng ý trả 40 m2 đất đó cho tôi. Tôi làm đơn gửi ubnd xã yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, ubnd xã thụ lý và đưa ra hòa giải, theo biên bản hòa giải thì ông kiên thừa nhận trong 1. 071m2 đất của ông có 40m2 đất là của tôi và hứa hổ trợ tôi để tách thửa 40m2 đất cho tôi. Từ đó đến nay đã trên 03 tháng, tôi đã nhiều lần liên hệ để ông kiên làm thủ tục tách thửa theo biên bản hòa giải nhưng ông kiên không thực hiện và nói là không tiếp tôi nữa. Tôi xin hỏi:
1. Với tư cách là một đảng viên ông kiên có vi phạm hành vi "cố ý trì hoãn hoặc trốn tránh trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo"; và hành vi "vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho nhà nước, cho tổ chức, cá nhân, phải bồi thường mà không bồi thường theo quy định".
2. Với tư cách là một đảng viên, trưởng đầu ngành của huyện, ông kiên đã vi phạm hành vi nào theo quy định của đảng, của luật công chức nhà nước. Tôi có làm đơn tố cáo ông kiên đến cơ quan cáp trên của ông kiên được không. 3. Nếu tôi làm đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân huyện để yêu cầu tòa án hủy giấy chứng nhận 1. 071 m2 nêu trên để tách thành 02 giất chứng nhận 40m2 đất thuộc sở hữu của tôi và 1. 031m2 đất thuộc sở hữu của ông kiên có được không ?
Trân trọng.
- Nguyễn Hoàng Ân

5. Tư vấn tranh chấp đất ao trong gia đình ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Nhà em trước kia ông bà nội em có giao cho một mảnh đất ao và bố mẹ em đã đổ đất lấp ao làm nhà năm 1992. Gia đình em đã đóng thuế đất ở cho đến nay (cả khu chỉ là đóng thuế chứ không được cấp sổ đỏ).

Vì điều kiện ông bà nội không có nên bố mẹ em đã lên ông bà ngoại ở. Năm 2005 chú ruột bố em đã ra làm nhà trên đất của gia đình em trong đó chú em đã có một mảnh đất riêng và gia đình em đã cấm không cho làm trên đất nhà em nhưng chú vẫn cố tình.

Vậy anh chị cho em hỏi bây giờ em làm đơn thì gia đình em có lấy lại được số đất ý không ạ ?

Em xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: Đ.T.H

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Để giải quyết vấn đề này nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc chúng tôi khuyên gia đình bạn nên tự thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên nếu không thể tự giải quyết được, gia đình bạn có thể tiến hành các thủ tục sau:

Đầu tiên là thủ tục hòa giải tại địa phương nơi xảy ra tranh chấp. Tại điều 202 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Thủ tục hòa giải tại địa phương là thủ tục bắt buộc. Tuy nhiên, nếu việc hòa giải tranh chấp đất đai tại xã không thành, bạn có tiến hành các bước tiếp theo.

Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 203 Luật Đất đai 2013 quy định: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

Nếu bạn lựa chọn giải quyết tranh chấp tại UBND có thẩm quyền thì cần gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến UBND cấp huyện nơi có mảnh đất đó, còn nếu chọn Tòa án thì gửi đơn ra tòa án cấp huyện nơi có bất động sản tranh chấp căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 25, điểm a khoản 1 Điều 33 và điểm c khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (Luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011) như sau:

“Điều 25. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án...

7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai...."

“Điều 33. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;..."

“Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:...

c) Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản. ..."

Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ trực tiếp để được tư vấn, giải đáp! Trân trọng./.

>> Tham khảo thêm: Hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất vườn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

6. Tư vấn giải quyết tranh chấp đất liên quan tới diện tích trên sổ đỏ ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Vợ chồng em có mua 1 mảnh đất năm 2008 trên sổ đỏ có ghi 50m2 (không ghi kích thước dài, rộng), thửa đất số 77B nằm cạnh thửa đất 77C. Do công việc bận nên gia đình em không xuống kiểm tra, thời gian gần đây em có xuống kiểm tra thì thấy mảnh đất nhà em còn có 2m rộng x 10m dài.

Hiện tại chủ đất 77D đã xây quây 50m2, diện tích trên sổ đỏ là 50m2, kích thước là 5m x 10m; Chủ đất 77C diện tích trên sổ đỏ là 50m2 không ghi kích thước, đã xây nhà cấp 4 lấn chiếm lên đất nhà em (móng nhà kích thước 5m x 10m, thân nhà được xây với kích thước 3m x 10m, còn 2m x 10m đang quây tôn và lợp mái tôn).

Em có hỏi chủ thửa đất cạnh nhà em 77C thì họ trả lời trước đây đất này thuộc đất giãn dân có diện tích cố định là 12m rộng x 10m dài và chủ đất này đã chia làm 3 (77B, 77C, 77D) để bán, do vậy chủ đất 77C đã mời em và chủ đất 77D đến làm việc để chia đều mỗi nhà 4m x 10m để cho đủ với diện tích đất thực tế. Tuy nhiên chủ đất nhà 77D không đồng ý lấy 4m x 10m.

Kính mong Luật sư giúp đỡ hướng giải quyết, để em có thể lấy đất xây nhà (em chấp nhận lấy 4m x 10m).

Em xin chân thành cảm ơn

Người gửi: C.Đ.Đ

Tư vấn giải quyết tranh chấp đất liên quan tới diện tích trên sổ đỏ ?

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo bạn trình bày thì trên giấy tờ nhà bạn ghi diện tích là 50m2 thì bạn sẽ được sở hữu với diện tích đó. Bạn không trình bày rõ là việc bạn mua nhà này có xác nhận của các cấp chính quyền hay có cán bộ địa chính xuống đo đạc đất và ghi nhận trên bản đồ địa chính không?

- Trong trường hợp hồ sơ lưu trú có xác nhận phần diện tích cũng như kích thước của gia đình bạn và các hộ liền kề thì bạn lên địa phương xin và các bên thỏa thuận với nhau trong việc phân chia đất (Luật đất đai 2013 ).

- Trong trường hợp không ghi lại thì các bên cần làm việc với chủ đất kiểm tra lại giấy tờ đất thế nào.

Vì đây là một mảnh đất trống nên chưa xác định phân lô kịch cụ thể của từng ô, nếu các bên không tự thỏa thuận được nhau thì có thể làm việc lại với bên bán đất hoặc có thể khởi kiện ra toà án nơi có mảnh đất để được yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê