Tôi gia hạn cho bà vợ kia sau 10 ngày phải chuyển đi. Tuy nhiên, sau 10 ngày tôi đến thu nhà thì bà vợ kia bỏ đi vì nợ nần nhiều, nhà cũng bán rồi. Còn ông chồng không hay biết vì bà vợ không thông báo. Tôi đã gọi điện cho bà vợ kia thì không liên lạc được. Tôi gọi cho ông chồng thì ông chồng nằng nặc không chịu dọn đi.

Nay tôi phải làm sao để giải quyết trường hợp thu nhà này?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: M.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua nhà ? 

Luật sư tư vấn luật đất đai gọi số: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê.  Câu hỏi của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005 

Nội dung phân tích:

Điều 171 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về căn cứ chấm dứt quyền sở hữu:

" Điều 171. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu

Quyền sở hữu chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác;

2. Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình;

3. Tài sản bị tiêu huỷ;

4. Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu;

5. Tài sản bị trưng mua;

6. Tài sản bị tịch thu;

7. Vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định; tài sản mà người khác đã được xác lập quyền sở hữu theo quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này;

8. Các trường hợp khác do pháp luật quy định."

Dựa trên điều luật trên, một trong những căn cứ chấm dứt quyền sở hữu là " Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình"

Điều 249 Bộ luật Dân sự 2005 quy định  về từ bỏ quyền sở hữu:

"Điều 249. Từ bỏ quyền sở hữu

Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của mình bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó.

Đối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật."

Theo pháp luật, ông chồng không phải là chủ sở hữu của căn nhà này.

Điều 450 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về hình thức của hợp đồng mua bán nhà

" Điều 450. Hình thức hợp đồng mua bán nhà ở  

Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."

Theo pháp luật, ngôi nhà là tài sản riêng của người vợ, do đó người vợ có quyền sở hữu đối với căn nhà này. Người vợ bán cho bạn ngôi nhà này, giữa hai bên làm hợp đồng có công chứng.  Vậy thủ tục mua nhà của bạn là hoàn toàn hợp pháp, bạn trở thành chủ sở hữu của căn nhà.

Điều 454 bộ luật Dân sự 2005 quy định về quyền của bên mua nhà:

"Điều 454. Quyền của bên mua nhà ở

Bên mua nhà ở có các quyền sau đây:

1. Được nhận nhà kèm theo hồ sơ về nhà theo đúng tình trạng đã thoả thuận;

2. Yêu cầu bên bán hoàn thành các thủ tục mua bán nhà ở trong thời hạn đã thoả thuận;

3. Yêu cầu bên bán giao nhà đúng thời hạn; nếu không giao hoặc chậm giao nhà thì phải bồi thường thiệt hại."

Theo đó, bạn có quyền yêu cầu bên bán giao nhà đúng thời hạn, nếu không giao hoặc chậm giao thì phải bồi thường thiệt hại. trong trường hợp này, người vợ đã chuyển đi, người chồng không chịu chuyển, tuy nhiên, người chồng không có quyền sở hữu hay bất cứ quyền nào khác liên quan đến ngôi nhà. Nếu như không thể thuyết phục được người chống chuyển đi thì bạn có thể nhờ cơ quan chức năng can thiệp giải quyết. 

 Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900 6162.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự.