Được sự ủy quyền này của ông Bùi Đức Dây và bà Nguyễn Thị Thái, ông Trần Văn Tâm tiến hành vay 600.000.000 đồng của ông Bùi Đức Tú và bà Đào Thị Lan Hương theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 13/10/2011. Ngày 19/1/2012, ông Trần Văn Tâm và ông Tú, bà Hương ký hợp đồng bổ sung hợp đồng thế chấp, đề nghị gia hạn thời gian trả nợ thêm 2 tháng kể từ ngày 19/1/2012. Đến 10/5/2012, do ông Dây, bà Thái không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đã hết thời hạn trả nợ, ông Tú, bà Hương ký kết thỏa thuận với ông Tâm về việc tiếp quản việc sử dụng mảnh đất đã thế chấp để giải quyết nợ. Nhưng khi tiến hành tiếp quản việc sử dụng mảnh đất, ông Tú, bà Đức phát hiện đây không phải là mảnh đất đã đề cập đến trong hợp đồng ủy quyền.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.1940


Phân tích:

Trước hết, đối với chữ ký của bà Nguyễn Thị Thái trong hợp đồng ủy quyền và hồ sơ sơ bộ về thanh lý hợp đồng vay tiền có bảo đảm bằng tài sản.

Về phía kết luận của cơ quan điều tra, tổ xác minh “bằng mắt thường” cho rằng dấu vân tay tại hợp đồng và dấu vân tay bà Thái là giống nhau, dấu vân tay của bà Thư cung cấp và dấu vân tay trong hợp đồng là hoàn toàn khác nhau.

Về phía ông Tú, ông có đoạn ghi âm về việc bà Thư xác định đã ký thay bà Thái vào hợp đồng ủy quyền và bà Thái đang nằm viện K điều trị bệnh ung thư.

Từ những chứng cứ đưa ra, có thể phân tích như sau:

Về chữ ký, cần đối chiếu chữ ký trong hợp đồng ủy quyền của bà Thái và mẫu chữ ký trong hồ sơ sơ bộ về thanh lý hợp đồng cùng với mẫu chữ ký trong thẻ căn cước để xác định ai là người đã ký tên trong hợp đồng ủy quyền và văn bản thanh lý hợp đồng vay tiền. Yêu cầu cơ quan điều tra có kết quả chính thức cho vấn đề này, ghi nhận rõ quá trình xác minh như thế nào, bằng biện pháp gì, bởi thực tế, bằng mắt thường không thể xác định chữ ký là của cùng một người hay không.

Đối với đoạn ghi âm của ông Tú về việc bà Thư nhận đã ký tên thay cho bà Thái trong hợp đồng ủy quyền, cần xác minh đoạn ghi âm này có chính xác là giọng của bà Thư hay không hay chỉ là căn cứ giả mà ông Tú đưa ra.

Đối với việc bà Thái đang nằm điều trị ung thư tại bệnh viện K, cần xác định thời điểm chính xác bà Thái nằm viện là khoảng thời gian nào, đối chiếu với thời gian tiến hành xác lập hợp đồng ủy quyền tại văn phòng công chứng Trung Tâm. Nếu khoảng thời gian này, bà Thái đang điều trị tại bệnh viện thì không thể có mặt để tiến hành ký kết hợp đồng ủy quyền, và chữ ký trên giấy tờ là chữ ký giả tạo hoặc, chữ ký và dấu tay thực chất là của bà Thái nhưng đây là chữ ký khống và bà Thái thực chất không có mặt để giao kết hợp đồng này.

Khi làm rõ được những vấn đề trên mới có thể xác định được liệu bà Thái có tham gia giao kết hợp đồng ủy quyền không? Trong trường hợp đây không phải là chữ ký của bà Thái, hợp đồng này sẽ được xác định là hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối theo Điều 132 BLDS, hợp đồng vay tài sản với ông

Tú cũng bị vô hiệu theo quy định khoản 2 Điều 138 BLDS.

Về xác minh thửa đất 42, 43 dùng để thế chấp vay tiền ông Tú, bà Hương

Ông Tú khai mảnh đất mà ông Tâm dẫn đi xem là mảnh đất giả không phải là mảnh đất như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lời khai của ông Tú chưa rõ ràng: mảnh đất ông Tú xem đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã có chủ khác hay mảnh đất này không đúng với mảnh đất được được xác định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu mảnh đất này đúng với GCNQSDĐ nhưng không thuộc quyền sở hữu của ông Dây, bà Hương thì quá trình công chứng hợp đồng ủy quyền đã có sự sai sót. Bởi theo quy định tại khoản 4 Điều 35 Luật công chứng: “Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe doạ, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng”. Như vậy, công chứng viên đã không xác minh chính xác nguồn gốc của mảnh đất mà đã tiến hành công chứng hợp đồng. Trong trường hợp đây là mảnh đất không đúng với GCNQSDĐ thì đây là sự nhầm lẫn của ông Tú, ông Tú cần đối chiếu và xem chính xác mảnh đất được đưa ra thế chấp số 42, 43 để xem thực chất thửa đất này có tồn tại không, nếu có thì tiến hành tiếp quản việc sử dụng đất theo biên bản thỏa thuận ngày 10/5/2012.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ