Nay tôi gửi câu hỏi lần thứ hai, kính mong được Luật Minh Khuê quan tâm giúp đỡ, tôi xin chân thành cám ơn ! Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê Gia đình tôi và gia đình ông H. cùng trồng chung một vườn vải thiều, theo phương thức: Cùng đầu tư tiền vốn, công sức lao động và ăn chia sản phẩm. Diện tích 09 ha, được cấp đất trồng cây ăn quả thời hạn 40 năm (hiện vẫn còn thời hạn sử dụng), chia làm hai Sổ: Một sổ đứng tên bà L (vợ ông H) có diện tích 05 ha, một sổ ông Lộc đứng tên diện tích 04 ha.Làm một nhà nhỏ, thuê anh rể vợ ông H trông coi, bảo vệ. Sổ giao đất trồng cây ăn quả có ghi rõ lô, khoảnh, tiểu khu, nhưng là Vườn chung, không phân biệt đất của ai và cây vải của ai.(Thỏa thuận bằng miệng chứ không có giấy tờ gì). Chúng tôi lập 2 cuốn sổ ghi chép cụ thể quá trình, chi phí trồng cây, chăm sóc, thu hoạch và phân chia tiền lời, đại diện từng gia đình ký xác nhận (gia đình ông Lộc phân công vợ là bà Q theo dõi, ghi chép và ký xác nhận; tương tự gia đình ông H phân công vợ là bà L), mỗi gia đình giữ một cuốn. Duy trì được 19 năm không có điều tiếng gì. Nay gia đình ông H tự ý triệt hạ vườn vải, lập một sổ mới đứng tên bà L (vợ ông H), có diện tích trùm lên vườn vải chung của hai nhà (trong đó trùm lên diện tích Sổ đã giao đất cho ông Lộc trồng cây ăn quả thời hạn 40 năm).Rồi tuyên bố loại bỏ gia đình ông Lộc ra khỏi Vườn vải chung của hai nhà. Khi gia đình ông H. thuê người mang cưa máy đến phá vải, tôi đã gặp gia đình ông H. để can ngăn, phản đối; nhưng sau đó lại tiếp tục phá hết vườn vải. Vì ông H là cán bộ lãnh đạo, nên tôi đã gặp vị đứng đầu của huyện phản ảnh và nhờ can ngăn ông H, nhưng không kết quả. Để đòi quyền lợi cho gia đình, tôi đã làm đơn gửi cơ quan chức năng, tố cáo hành vi chiếm đoạt và hủy hoại tài sản công dân của ông H, bà L; nhưng cơ quan chức năng cho là vụ việc “tranh chấp đất lâm nghiệp giữa hai gia đình và ông H không liên quan vì Sổ giao đất đứng tên bà L (vợ ông H), phần ký nhận nhận đầu tư, chi phí, chia tiền lời đều là bà L ký”. Tôi phản đối cách giải quyết, vì họ đã bênh che cho ông H là lãnh đạo huyện. Tôi làm đơn gửi lần thứ hai tố cáo hành vi vi phạm pháp luật hình sự của ông H, bà L; đồng thời minh chứng thêm sự liên quan của ông H: Vì ông H là chủ gia đình, là chồng bà L, gia đình ông H đã đầu tư vào Vườn vải chung hai nhà 61 triệu đồng, được chia lời 300 triệu đồng (đều được bà L (vợ ông H) ký nhận). Nhưng vẫn được trả lời là “ tranh chấp việc sử dụng đất lâm nghiệp giữa hộ gia đình ông bà và bà L” và “về sự liên quan của ông H chưa đủ căn cứ để thẩm tra, xác minh”. Xin hỏi hành vi của ông H, bà L có vi phạm pháp luật hình sự hay không? Cơ quan chức năng cho là ông H không liên quan, có đúng không? Tôi phải làm gì để đòi quyền lợi cho gia đình mình?

Tôi xin cám ơn!

Người hỏi: VĐL

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số:  1900 6162

 

Trả lời:

 1.Cơ sở pháp lý

- Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc hội

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, số 37/2009/QH12 của Quốc hội.

2.Nội dung trả lời

2.1.Thứ nhất về vấn đề hành vi của ông H, bà L có vi phạm pháp luật hình sự hay không?

Căn cứ Điều 143 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Để che giấu tội phạm khác;

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy để xem xét hành vi của ông H có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không cần dựa vào các yếu tơ cấu thành của tội ohamj quy định tại Điều 143 Bộ luật hình sự năm 2009:

•Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan:

Huỷ hoại tài sản là làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng không thể khôi phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn

Làm hư hỏng tài sản là làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản và giá trị sử dụng bị giảm đó có thể khôi phục được (có thể khôi phục lại như cũ, nhưng có thể chỉ khôi phục lại được một phần).

Hậu quả:

Hậu quả của hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là giá trị hoặc giá trị sử dụng của tài sản bị huỷ hoại hoặc hư hỏng. Giá trị hoặc giá trị sử dụng của tài sản là thiệt hại do hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng gây ra chứ không phải giá trị hoặc giá trị sử dụng ban đầu của tài sản khi chưa bị huỷ hoại hoại hoặc làm hư hỏng.Do đó giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc hư hỏng  là hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm,

Như vậy trong trường hợp này thì mặc dù ông H đã có hành vi hủy hoại tài sản của tuy nhiên chưa rõ giá trị tài sản bị hủy hoại là bao nhiêu nên không có căn cứ để khẳng định hanh vi trên có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không.

2.2.Thứ hai về vấn đề cơ quan chức năng cho là ông H không liên quan, có đúng không?

Căn cứ Điều 2 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009:

“Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Căn cứ Điều 20 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009:

“Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.”

Do đó mặc dù ông H không trực tiếp thự hiện hành vi trên tuy nhiên việc gia đình ông H thuê người chặt phá vải thấy dấu hiệu chỉ huy việc thực hiện hanh vi trên nên hành vi thuộc trường hợp đồng phạm.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.